Xây dựng vùng lúa chất lượng cao: Tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm lúa gạo

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tây Ninh vừa hoàn chỉnh bản dự thảo Đề án “Nâng cao hiệu quả sản xuất lúa và xây dựng ”. Đề án quan trọng này đang được lãnh đạo UBND tỉnh và các ngành có liên quan đóng góp ý kiến.

Nông dân huyện Bến Cầu phơi lúa.

Nông dân huyện Bến Cầu phơi lúa.

Theo cơ quan chủ trì xây dựng đề án, Tây Ninh là tỉnh có diện tích sản xuất lúa lớn nhất ở miền Đông Nam bộ, với diện tích gieo trồng cả năm hơn 150.000 ha. Nhờ điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi- nguồn nước ngọt ở hồ Dầu Tiếng và vùng ven sông Vàm Cỏ, cây lúa trở thành một loại cây trồng chủ lực của tỉnh. Trong thời gian qua, Tây Ninh đã có nhiều chính sách trên cây lúa. Tuy nhiên, việc sản xuất lúa ở Tây Ninh vẫn chưa thực sự đạt hiệu quả.

Năng suất lúa vẫn còn thấp

Năng suất lúa bình quân của tỉnh trong 5 năm gần đây khoảng 50,88 tạ/ha. So sánh cho thấy, năng suất này vẫn còn thấp so với năng suất bình quân của cả nước (56 tạ/ha) và của đồng bằng sông Cửu Long (57,3 tạ/ha). Nguyên nhân là do trong sản xuất lúa vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải khắc phục như: sản xuất nhỏ lẻ, ít tập trung thành từng vùng. Hiện nay vẫn còn nhiều hộ nông dân tự để giống dẫn đến giống lúa bị lẫn tạp, kém chất lượng; nông dân còn sử dụng nhiều chủng loại giống lúa trên một cánh đồng làm cho hạt gạo xuất khẩu không đồng nhất về chất lượng, kích cỡ; cơ sở vật chất chế biến, bảo quản lúa gạo không đáp ứng yêu cầu.

Mặt khác, việc áp dụng đồng bộ cơ giới hóa trong sản xuất và liên kết giữa các đầu mối trong sản xuất lúa thiếu chặt chẽ, còn mang tính nhỏ lẻ. Thu nhập bình quân hằng năm của hộ (3 vụ) từ 60-75 triệu đồng/ha- thấp hơn so với thu nhập bình quân sản xuất nông nghiệp của tỉnh là 80 triệu đồng/ha/năm.

Đa số nông dân sản xuất lúa chỉ quan tâm đến năng suất, ít quan tâm đến chất lượng gạo và an toàn thực phẩm. Việc tiêu thụ lúa chất lượng cao chưa gắn với thị trường, chưa tạo được mối liên kết sản xuất. Tất cả những yếu tố trên làm năng suất, chất lượng lúa thiếu ổn định, thiếu tính cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu, chưa phát huy hết hiệu quả sản xuất lúa.

Trong 5 năm (2011 – 2015), diện tích sản xuất lúa của tỉnh nhìn chung có xu hướng giảm nhưng năng suất bình quân lại có xu hướng tăng, trung bình đạt 50,88 tạ/ha. Tuy nhiên, như vừa đề cập, năng suất lúa ở Tây Ninh vẫn còn thấp so trung bình cả nước là 56 tạ/ha (nguồn Tổng cục Thống kê).

Nguyên nhân là do sản xuất nhỏ lẻ, nông dân chưa mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ thuật phù hợp, giống sử dụng không bảo đảm chất lượng, thiếu những vùng sản xuất chuyên canh, thâm canh năng suất và chất lượng cao. Để đạt được mục tiêu đề ra theo định hướng phát triển nông nghiệp tỉnh Tây Ninh đến năm 2020- giảm diện tích còn 125.000 ha, sản lượng là 665.000 tấn, năng suất phải đạt 53,2 tạ/ha, cần phát triển những vùng sản xuất lúa chất lượng cao trên địa bàn tỉnh.

Năm 2015, diện tích lúa trên toàn tỉnh Tây Ninh khoảng 144.395 ha, trong đó, 5 huyện có diện tích trồng lúa lớn trọng điểm là , , Bến Cầu, và Dương Minh Châu. Ngoài ra, Hòa Thành, Tân Biên, TP Tây Ninh cũng là 3 huyện có diện tích trồng lúa nhưng không nhiều, riêng Tân Châu là huyện có diện tích trồng lúa thấp nhất.

Cơ giới hóa trong sản xuất lúa đã được áp dụng, tỷ lệ làm đất bằng máy đạt trên 95% diện tích gieo trồng cây hằng năm. Trong khâu thu hoạch, phần lớn diện tích sản xuất lúa đều sử dụng cơ giới hóa. Toàn tỉnh có 715 chiếc máy tuốt lúa và hơn 100 máy gặt các loại (máy gặt xếp dãy, máy gặt đập liên hợp). Theo thống kê, tỷ lệ 99% khâu tuốt lúa và 50% diện tích lúa thu hoạch bằng máy. Nhìn chung hiện nay, số lượng máy gặt đập liên hợp vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu thu hoạch tập trung. Khâu bảo quản sau thu hoạch, hiện tại chỉ có các nhà máy, các cơ sở thu mua, chế biến và nơi sản xuất giống mới sử dụng máy sấy lúa.

Khó ở đầu tư và tiêu thụ

Trong thời gian qua, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, UBND tỉnh đã tổ chức thực hiện một số chương trình, đề án, dự án đầu tư cho cây lúa, có thể liệt kê như dưới đây.

Mô hình liên kết sản xuất lúa theo hướng và cánh đồng mẫu lớn được thực hiện từ năm 2008 đến nay. Diện tích triển khai là 7.893 ha với sự tham gia của 4.069 hộ nông dân thuộc 17 xã, 6 huyện (6 huyện gồm: Bến Cầu, Gò Dầu, Hòa Thành, Dương Minh Châu, Châu Thành và Trảng Bàng). Mô hình có sự phối hợp với một số doanh nghiệp cung ứng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Nông dân sử dụng giống đã được xác nhận, sạ thưa, xuống giống tập trung né rầy, cán bộ cùng nông dân ra đồng theo lịch thời vụ, bón phân theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật, tập làm quen ghi chép sổ nhật ký đồng ruộng.

Mô hình sản xuất lúa như vừa nêu vẫn còn nhiều tồn tại: thiếu công lao động khi xuống giống tập trung, việc sản xuất còn phụ thuộc thủy triều, trình độ nông dân không đồng đều gây khó khăn cho việc tiếp thu kiến thức, ngại ghi sổ nhật ký vv…vv… Công tác chọn giống, nhân giống chưa đáp ứng đủ yêu cầu sản xuất, tổ chức sản xuất chỉ dừng lại tổ liên kết sản xuất. Mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp- nhất là doanh nghiệp hợp đồng tiêu thụ sản phẩm chưa chặt chẽ, dẫn đến giá cả không ổn định, phần lớn phụ thuộc vào thương lái.

Về Đề án “Xây dựng mạng lưới nhân giống lúa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020”, qua 4 vụ triển khai sản xuất giống, Trung tâm Giống nông nghiệp đã phối hợp với các địa phương tham gia đề án lúa thành lập 11 tổ hợp tác sản xuất lúa giống. Đề án đã giúp nông dân thay đổi tập quán canh tác, tăng năng suất, hiệu quả kinh tế; phần nào tìm được nơi tiêu thụ lượng giống sản xuất ra.

Nhưng bên cạnh những thành quả đạt được vẫn còn những mặt hạn chế. Một số hạng mục chưa thực hiện đầy đủ theo kế hoạch như đào tạo tập huấn, chưa xác định được cơ cấu giống hợp lý, đầu ra chưa ổn định, thiếu vùng sản xuất giống nguyên chủng cung cấp. Nguyên nhân của những hạn chế tồn tại này- nói chung là do bước đầu triển khai còn nhiều lúng túng, do người nông dân chưa thay đổi được thói quen sản xuất truyền thống nên việc phối hợp chưa chặt chẽ.

Dự án khuyến nông “3 giảm 3 tăng trong sản xuất lúa” được triển khai trong năm 2015 tại huyện Bến Cầu với diện tích 44 ha, sử dụng giống OM 4900. Dự án vừa xây dựng mô hình vừa là điểm nhân giống lúa, sử dụng giống nguyên chủng, hằng năm cung cấp khoảng 200-300 tấn lúa giống. Có thể xem đây là giống xác nhận, góp phần giảm bớt áp lực về giống lúa cho tỉnh. Tuy nhiên chất lượng lúa giống chưa cao, việc đầu tư chưa tập trung mà còn dàn trải, người dân còn ỷ lại sự hỗ trợ của Nhà nước.

Về vấn đề tiêu thụ nông sản, hiện nay, đa số nông dân sản xuất lúa đều bán tươi cho thương lái, chủ yếu là thương lái miền Tây và các cơ sở thu mua trên địa bàn với giá dao động từ 4.200 – 5.000 đ/kg lúa tươi – tùy mùa vụ và tùy giống lúa. Trước đây, có một số doanh nghiệp đến hợp đồng bao tiêu sản phẩm lúa của bà con nông dân, song hình thức tiêu thụ này đã bị thất bại do việc thực hiện hợp đồng theo giá bán đã thỏa thuận không được nông dân tuân thủ làm mất niềm tin của các doanh nghiệp. Thị trường tiêu thụ lúa gạo trên thế giới có nhiều biến động và có xu hướng giảm nhập khẩu.

Do đó, sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt giữa các nước xuất khẩu gạo, trong đó có Việt Nam. Trong năm 2015, Việt Nam là nước bị sụt giảm cả về sản lượng và giá trị xuất khẩu gạo do khó giữ vững khi cạnh tranh với các nước xuất khẩu gạo lớn như Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc và Pakistan. Vì thế, để nâng cao lợi thế cạnh tranh của lúa gạo Việt Nam thì cần phải phát triển sản xuất theo hướng nâng cao hiệu quả, nâng cao chất lượng để đáp ứng được yêu cầu các thị trường khó tính trên thế giới.

Để giải quyết được những vấn đề trên, qua đó tạo hướng đi bền vững cho ngành sản xuất lúa gạo trong tỉnh cần có chiến lược sản xuất lúa cụ thể trong từng thời điểm nhất định và từng vùng sản xuất lúa có tính đặc thù. Việc cần thiết phải làm là nâng cao năng suất và chất lượng lúa bằng cách xây dựng vùng lúa chất lượng cao gắn với và xây dựng những vùng sản xuất lúa đạt tiêu chuẩn VietGAP. Do đó, việc thực hiện đề án “Nâng cao hiệu quả sản xuất lúa và xây dựng vùng lúa chất lượng cao” là rất cần thiết.

Làm sao tăng chất lượng, hạ giá thành……

Mục tiêu chung của đề án nói trên là nâng cao hiệu quả sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh theo hướng nâng cao năng suất và giá trị hạt gạo, hình thành mối liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Mục tiêu cụ thể- cơ quan chủ trì xây dựng đề án cho biết, tỷ lệ diện tích sử dụng giống lúa cấp xác nhận đến năm 2020 chiếm hơn 80% tổng diện tích lúa của tỉnh. Đến năm 2020, diện tích sản xuất lúa chất lượng cao chiếm trên 30% diện tích sản xuất lúa cả năm của tỉnh. Trong đó, diện tích sản xuất lúa đạt tiêu chuẩn VietGAP ít nhất 300 ha; nâng cao hiệu quả, chất lượng sản phẩm trên 10% so với hiện nay, đáp ứng yêu cầu của thị trường. Mục tiêu cũng đề ra việc xây dựng vùng lúa chất lượng cao có diện tích bằng 30% diện tích sản xuất lúa cả năm của tỉnh, tương đương 37.500 ha. Các điểm nhân giống lúa cấp xác nhận được triển khai tại 23 xã thuộc 7 huyện và thành phố (trừ huyện Tân Châu). Vùng lúa chất lượng cao được xây dựng tại các xã thuộc 6 huyện trong tỉnh, mỗi huyện xây dựng 1 mô hình sản xuất.

Theo tính toán, Đề án “Nâng cao hiệu quả sản xuất lúa và xây dựng vùng lúa chất lượng cao” sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường. Về mặt kinh tế, nếu như đề án được thực hiện thành công thì sẽ tạo ra khoản lợi nhuận hơn 200 tỷ đồng (đề án triển khai trong thời gian 5 năm).

Đối với các doanh nghiệp, đề án sẽ tạo ra các vùng sản xuất lúa chất lượng cao – là điều kiện để các doanh nghiệp đầu tư, thu mua, chế biến và kinh doanh với khối lượng lớn nhằm chủ động trong việc kinh doanh, ký kết hợp đồng tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Các doanh nghiệp có thể mở rộng thị phần đến các thị trường cao cấp hơn, tạo được uy tín trên thị trường lúa gạo nhờ chất lượng và giá trị.

Ở khía cạnh xã hội và môi trường, đề án tạo ra sản phẩm lúa an toàn, chất lượng cao cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường trong nước và xuất khẩu. Sản phẩm sẽ trở thành một lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất lúa của tỉnh. Qua đó cũng nâng cao trình độ áp dụng tiến bộ kỹ thuật cũng như trình độ sản xuất lúa giống cho nông dân; tạo điều kiện hình thành các điểm chuyên sản xuất lúa giống và các vùng sản xuất lúa chất lượng ổn định, góp phần cho việc xây dựng cánh đồng lớn thành công.

Việc sử dụng giống tốt chất lượng cao, kết hợp áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất làm giảm chi phí đầu tư (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật…), giảm các tác nhân gây ảnh hưởng môi trường, nâng cao giá trị, chất lượng lúa gạo hàng hóa. Giá trị sản xuất tăng sẽ góp phần ổn định việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, làm thay đổi bộ mặt nông thôn trên các lĩnh vực kinh tế, trật tự an toàn xã hội. Việc sử dụng cơ giới hóa đồng bộ để nâng cao khả năng sản xuất quy mô lớn, hạ giá thành sản phẩm, giảm thất thoát sau thu hoạch.

Theo Đ.V.T (Tây Ninh Online)

Bạn có thể quan tâm