Từ gò Ruộng Quan đến Thiền Lâm cổ

Báo Tây Ninh đã có các bài viết về gò Duối – gò Ruộng Quan mà chắc chắn đó là một trong những đồn điền thời “cựu trào” – triều Nguyễn mở mang, khai phá. Điều ít người biết hơn là công cuộc này có một số nhà sư tham dự.

Nhà nghiên cứu dân gian Nam bộ Trương Ngọc Tường vừa cho biết, qua các kết quả nghiên cứu của ông, rằng ở Tây Ninh có sự tham gia tích cực của Yết Ma Lượng, một vị cao tăng sau này về lập cổ.

Chùa Thiền Lâm cổ

Chùa Thiền Lâm cổ

Đấy là dưới thời vua Tự Đức. Trong sách “”, tác giả Vương Công Đức cũng ghi nhận: “Vào năm 1853, Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương đã đệ trình lên vua Tự Đức một sách lược và được vua chấp thuận. Đấy là thông báo khắp nơi ai tự nguyện mộ dân tối thiểu được 10 người đi khai hoang ở Nam kỳ tùy chỗ ưa thích cư trú thành làng ấp. Người đứng ra mộ dân có thể là dân chúng bình thường, có thể là tù phạm. Nếu là dân thường có thể được ban thưởng, ban phẩm tước cùng chức vụ hành chính như: ai mộ được 30 người lập ấp được thưởng chánh cửu phẩm bá hộ và được giữ chức Tổng lý…”.

Vậy ta đã có thể hiểu vì sao mà các bậc tiền hiền có công quy dân lập ấp đều trở thành các vị có chức tước. Như đại hương cả Đặng Văn Trước ở Trảng Bàng, hoặc cụ Trần Văn Thiện ở Long Thành năm 1838 từng làm Thôn trưởng thôn Thới Long (tên cũ của Long Thành) và đến 1841 được thăng làm Cai tổng Hòa Ninh (Sổ việc làng Long Thành, năm 1943).

Xem kỹ bộ sử “Đại Nam thực lục”, ta sẽ nhận ra chính sách mở mang khai phá miền đất mới Nam bộ đã nhất quán và xuyên suốt qua nhiều đời vua. Như Nguyễn Phúc Ánh ngay từ năm 1790 đã có mệnh lệnh: “Cho các đội túc trực và các vệ thuyền dinh trung quân ra vỡ ruộng ở Vàm Cỏ, đặt tên trại đồn điền, cấp cho trâu bò, điền khí và thóc, ngô, đậu giống. Đến ngày thu hoạch đem hết về kho”. Đời vua Minh Mạng, năm 1836- năm lập phủ Tây Ninh cũng có chiếu dụ: “Đưa hết các loại tội phạm sung quân, đi đày làm binh đang bị giam ở các tỉnh ấy giải vào Nam. Các tướng quân, tham tán chiếu theo tội nặng nhẹ: về các tội phạm không cứ hạng lâu năm hay chóng, cho mở khóa xiềng tất cả, và các loại tội phạm sung vào binh đều cho làm binh ở đồn điền…” (theo “Trảng Bàng phương chí”, trang 92-93).

Tuy nhiên phải đến thời vua Thiệu Trị, từ 1841 trở về sau, công cuộc khai phá ở Tây Ninh mới diễn ra mạnh mẽ với một tên tuổi thường được nhắc khi nghiên cứu việc lập thêm các làng xã mới. Đấy là Tuyên phủ sứ Cao Hữu Dực. Sách “Từ điển địa danh hành chính Nam bộ”- Nguyễn Đình Tư, NXB Chính Trị Quốc Gia 2008 có rất nhiều mục từ nhắc đến tên ông. Như mục từ Hàm Ninh, trang 416:“Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), Tuyên phủ sứ Tây Ninh là Cao Hữu Dực chiêu tập dân xiêu tán lập thêm 12 thôn là An Hòa… Phước Mỹ… Mục từ Mỹ Ninh cũng viết: “Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), Tuyên phủ sứ Tây Ninh Cao Hữu Dực chiêu tập dân xiêu tán lập thêm 11 thôn…”.

Đến thời Nguyễn Tri Phương làm quan Kinh lược sứ, ông vẫn tiếp tục áp dụng chính sách quy dân lập ấp cũng là điều dễ hiểu. Nghiên cứu về Phật giáo Nam bộ của Trương Ngọc Tường hé lộ một chi tiết. Đấy là sau khi Kinh lược sứ bố cáo với “bàn dân thiên hạ” về chỉ dụ của Tự Đức năm 1853, thì đích thân Thích Trí Lượng (pháp danh chính thức của Yết Ma Lượng) đến gặp Nguyễn Tri Phương với đề nghị: xin được đi sau những đạo binh đến các vùng đất mới lập đồn điền, để cất chùa. Nghe được ý định tốt đẹp ấy, quan Kinh lược đã vui mừng chấp thuận.

Lại nói về sư Thích Trí Lượng, theo Trương Ngọc Tường thì ông đi tu khá muộn – khi đã vào tuổi trung niên. Về năm sinh của ông: “Kỷ Mẹo niên, muội hoạt nhật thời chú sinh” (bia đá ở Thiền Lâm – Gò Kén), nghĩa là sinh vào năm 1819, không rõ ngày tháng. Vì thế vào năm 1853, ông đã 34 tuổi, vẫn là độ tuổi tràn đầy sức lực và khát vọng. Sư thầy của ông là hòa thượng Hải Tịnh mới từ chùa Thiên Mụ (Huế) vào tu tụng tại chùa Giác Lâm, tỉnh thành Gia Định. Được chấp thuận, ông theo đoàn quân đồn điền lên khai hoang mở đất ở Tây Ninh. Ông cũng từng lên núi Bà Đen, tham gia vào cuộc trùng tu chùa Bà – Linh Sơn Tiên Thạch tự, sau đó về một miền nào đó quanh chân núi tạo lập chùa An Cư, còn gọi là chùa Tế Giác Quảng Châu.

Gò Duối (Ruộng Quan)

(Ruộng Quan)

Đây mới chỉ là những nghiên cứu, từ những gì thật ít ỏi liên quan đến phát triển Phật giáo lên đất Tây Ninh. Nhưng cũng có thể thấy một vài manh mối. Như chùa An Cư ở đâu? Liệu đây có phải là miền mà một số tài liệu viết về Tây Ninh gọi là phủ cũ An Cơ, nơi sau năm 1862, Tham tán Tường (Khâm Tấn Tường) đem quân về dựng căn cứ chống Pháp? Ý nghĩa thì đã rõ – an cư để rồi lạc nghiệp! Và dĩ nhiên, nó phải gần với một đồn điền đông người nào đó. Liệu đồn điền này có phải ở trong phạm vi các xã An Cơ, Hảo Đước ngày nay?

Nhưng dù sao thì các chùa kia nếu có cũng đã không còn ngay từ thời ngài Yết Ma Lượng còn tại thế. Bởi sau đó, ngài đã phải quay về tỉnh lỵ, thuộc làng Hiệp Ninh để lập chùa Thiền Lâm. Chữ “cổ” (Thiền Lâm cổ) hẳn là về sau mới có, để phân biệt với chùa Thiên Lâm mới do đệ tử của ngài là hòa thượng Như Nhãn ra lập ở Gò Kén, cách chùa cũ độ 5km. Một vài người cao tuổi ở các phố thuộc khu phố cũ, nay là phường 2, còn nhớ: chùa Thiền Lâm xưa có đất rộng thênh thang, mặt tiền chùa quay về hướng đường Hàm Nghi. Sau khi Pháp chiếm, chỉnh trang đô thị sao đó đã làm mất đi phần lớn đất chùa. Vậy mà không ai biết chùa Thiền Lâm cổ được “khai sơn tạo tự” năm nào! Chỉ biết người lập chùa là Thích Trí Lượng. Con đường ngày trước mang tên Yết Ma Lượng dẫn đến chùa nay là đường Nguyễn Văn Cừ. Đành phải tạm đoán thôi! Năm 1853, ngài lên Tây Ninh; khoảng thời gian ngài tham gia ở núi Điện Bà cũng như việc lập chùa An Cư cứ cho là mất khoảng 10 năm, thì việc lập chùa Thiền Lâm cổ có lẽ bắt đầu từ năm 1862 trở về sau. Đấy cũng là năm Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông – trong đó có Tây Ninh. Vùng nghi vấn có đồn điền và chùa An Cư chính là vùng căn cứ của nghĩa quân chống Pháp. Những năm ấy vùng đất này bị quân giặc đánh phá tơi bời, nên ước mơ an cư ấy đã tan thành mây khói. Có phải là vì thế mà Yết Ma lượng trở về làng Hiệp Ninh lập chùa ở khu phố cũ mà ngày nay nhiều người lớn tuổi vẫn quen gọi xóm Chùa?

Theo TRẦN VŨ (Tây Ninh Online)

Bạn có thể quan tâm