Thực trạng sản xuất rau an toàn

Khó khăn nhất của người hiện nay là việc tiêu thụ sản phẩm còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Rau sau khi thu hoạch hầu như chỉ bán cho thương lái tại ruộng, giá được thương lái ấn định, đây là một thiệt thòi rất lớn cho người nông dân.

Ngoài ra, khi nguồn cung sản phẩm rau trên thị trường dồi dào thì tình trạng ép giá xảy ra. Mặt khác, nông dân chưa tiếp cận được những thông tin về nhu cầu của thị trường nên không có biện pháp tổ chức sản xuất hợp lý.

Các hộ trồng rau vẫn còn sản xuất nhỏ lẻ, manh mún.

Các hộ trồng rau vẫn còn sản xuất nhỏ lẻ, manh mún.

Hiện nay, tình trạng mất an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) đang ở mức báo động nên vấn đề sử dụng ( – RAT) đang được người tiêu dùng thực sự quan tâm.

Tại Tây Ninh, do có truyền thống canh tác lâu đời, người nông dân trồng rau có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và tích cực áp dụng các tiến bộ kỹ thuật nên năng suất, chất lượng cây rau ngày một nâng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng. Tuy nhiên, vẫn còn không ít nông dân vì chạy theo lợi nhuận nên chưa thực hiện đúng quy trình sản xuất RAT. Từ đó, chất lượng rau chưa bảo đảm (đặc biệt về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật), gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người tiêu dùng.

Thực hiện Quyết định số 2745 ngày 30.12.2011 của UBND tỉnh Tây Ninh phê duyệt “Quy hoạch sản xuất, phát triển và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020”, Sở NN&PTNT đã chỉ đạo các đơn vị có liên quan xây dựng kế hoạch và hằng năm được bố trí vốn để tập huấn, tuyên truyền, chuyển giao khoa học kỹ thuật và hướng dẫn xây dựng các mô hình sản xuất RAT theo hướng . Đến nay, việc sản xuất và tiêu thụ rau, RAT của Tây Ninh đã có những bước phát triển và đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Các vùng sản xuất rau, đặc biệt các vùng rau tập trung đã được đầu tư về cơ sở hạ tầng. Người nông dân đã nhận thức được tầm quan trọng của việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, đã tiếp cận được với các quy trình sản xuất mới như , GlobalGAP… đồng thời ngày càng quan tâm đến vấn đề an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường. Hiệu quả kinh tế sản xuất rau của nông dân đã được cải thiện, lợi nhuận thu được ngày càng cao. Mạng lưới tiêu thụ RAT đã bắt đầu hình thành và phát triển, từng bước đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng.

Tuy nhiên, khó khăn nhất của người trồng rau hiện nay là việc tiêu thụ sản phẩm còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Rau sau khi thu hoạch hầu như chỉ bán cho thương lái tại ruộng, giá được thương lái ấn định, đây là một thiệt thòi rất lớn cho người nông dân. Ngoài ra, khi nguồn cung sản phẩm rau trên thị trường dồi dào thì tình trạng ép giá xảy ra. Mặt khác, nông dân chưa tiếp cận được những thông tin về nhu cầu của thị trường nên không có biện pháp tổ chức sản xuất hợp lý.

Ngoài ra, rau là sản phẩm hàng hóa có thời gian lưu thông ngắn, cần phải được bảo quản trong môi trường nhiệt độ thích hợp. Tuy nhiên, hầu hết các điểm kinh doanh rau trên địa bàn Tây Ninh chưa sử dụng thiết bị chuyên dùng (chưa có cơ sở sơ chế, đóng gói) để bảo quản rau, nên chất lượng sản phẩm đến tay người tiêu dùng không được bảo đảm, giá trị thấp. Hơn nữa, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm tại một số điểm kinh doanh rau cũng chưa bảo đảm yêu cầu, dụng cụ đựng rau bị nhiễm bẩn, lẫn lộn giữa rau và các loại thịt cá tươi sống, hàng hóa để trực tiếp trên mặt đất, nguồn gốc rau không rõ ràng, không có cơ sở để truy xuất nguồn gốc nếu có ngộ độc thực phẩm xảy ra…

Bên cạnh đó, việc sản xuất RAT còn gặp nhiều khó khăn khác, như: quy mô còn nhỏ lẻ, manh mún, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, chưa có các vùng sản xuất chuyên rau tập trung lớn; cơ sở hạ tầng cho vùng sản xuất rau còn thiếu và chưa đồng bộ. Còn quá ít doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất và kinh doanh rau. Hoạt động xúc tiến thương mại cho lĩnh vực quảng bá RAT còn hạn chế, nên sản xuất gặp nhiều khó khăn.

Mặt khác, trang thiết bị phục vụ công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng rau còn thiếu. Việc quản lý chỉ dừng ở mức chứng nhận vùng, cơ sở đủ điều kiện sản xuất, sơ chế, kinh doanh RAT; còn sản phẩm rau đến người tiêu dùng thì chưa được chứng nhận. Hệ thống cơ chế, chính sách còn thiếu và chưa phù hợp để khuyến khích phát triển sản xuất và tiêu thụ RAT.

Theo Sở NN&PTNT, để từng bước khắc phục những tồn tại, hạn chế và tạo động lực thúc đẩy việc phát triển sản xuất và tiêu thụ RAT trong những năm tới, Sở vừa xây dựng xong Đề án “Sản xuất, sơ chế và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020”. Đề án này nhằm hướng phát triển nông nghiệp đến nền sản xuất hàng hóa chất lượng cao, phục vụ tiêu dùng trong tỉnh và cung ứng cho các tỉnh lân cận, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh. Việc áp dụng quy trình VietGAP vào sản xuất sẽ khẳng định thương hiệu cũng như nâng cao giá trị của ngành hàng rau Tây Ninh, làm tăng thu nhập cho người trồng rau.

Theo Đề án, dự kiến diện tích sản xuất rau an toàn mỗi năm là 1.500 ha, năng suất bình quân 20 tấn/ha, sản lượng đạt 30.000 tấn/năm. Với giá bán bình quân 10.000 đồng/kg, giá trị sản xuất rau theo VietGAP sẽ đạt 300 tỷ đồng/năm. Khi sản phẩm được chứng nhận VietGAP, giá trị tăng thêm của người sản xuất rau cao hơn 60 tỷ đồng/năm so với không áp dụng VietGAP. Ngoài ra, việc áp dụng quy trình kỹ thuật để sản xuất sản phẩm đạt tiêu chuẩn VietGAP sẽ góp phần gìn giữ tốt môi trường và tạo ra sản phẩm RAT cho người tiêu dùng.

Theo V.Đ.L (Tây Ninh Online)

Bạn có thể quan tâm