Thềm sông, vài phím đàn Giêng !

Và phím đàn nốt son đẹp nhất là đây, cũng ngay trên một bến sông Vàm. Đó là đình Trường Đông ở ấp Trường Ân. Lễ Kỳ yên đình cũng vào hai ngày 15 và 16 tháng Giêng. Thú vị nhất là đình như ở kề bên mép nước, nên thuyền ghe đi qua đều có thể nhìn rõ ông Hổ oai phong vẽ sau lưng miếu thần nông.

Cúng dinh quan lớn Huỳnh Công Nghệ ở Long Thành Nam.

Cúng dinh quan lớn Huỳnh Công Nghệ ở Long Thành Nam.

“Em ơi vút lên một tiếng đàn
Kìa đàn đã so dây, cung đàn đã lựa phím
Đất nước mình xôn xao, mùa vui đang nở rộ…”

(Thơ Lưu Trọng Lư, nhạc Cao Việt Bách)

Mới giữa tháng Giêng năm mới Bính Thân. Ở đâu đó đã có báo động về hạn hán vì Elnino, xâm nhập mặn ở miền Trung hoặc Tây Nam bộ. Thì trên những bến sông Vàm Cỏ Đông tôi đến vẫn ăm ắp nước đầy. Gặp con nước lớn, lục bình tràn lên, tụ lại thành mảng, thành bè xanh ngắt, có lúc giăng kín mặt sông. Đến khi nước ròng, lục bình lại lũ lượt kéo đi, để lại một mặt sông luênh loang ánh bạc. Tàu, thuyền lại thong thả lướt qua, không cần phải gầm gừ máy nổ xả khói đen trên mặt sông làm tím mặt lục bình.

Chẳng biết vô tình hay cố ý đây mà những miếu đình tôi tới lại nằm sát bến sông hoặc cũng gần các chi lưu của sông Vàm Cỏ Đông. Đơn giản chỉ vì các lễ hội ở đó diễn ra vào giữa tháng Giêng. Như ở Gò Duối, ấp Bến Kéo, xã Long Thành Nam lễ cúng rơi vào ngày 17 âm lịch, tức ngày 24.2.2016. Đúng ngày này có lễ hội tiễn quân ở khắp các huyện, thành trong tỉnh. Mà trùng hợp làm sao, cái dinh thờ “Quan lớn đại thần Huỳnh Công Nghệ” nằm giữa Gò Duối cũng lấy việc quân làm trọng. Bà chủ trì lễ cúng miếu là người họ Phạm đã tuổi bảy lăm, theo bà đã có bốn, năm đời từ các cụ sơ, cụ cố, ông bà nội ngoại và mẹ cha của bà đã sống ở đây trên mảnh đất gò. Bà nhớ ông bà kể chuyện về cái tên Gò Ruộng Quan này. Đã đọc vài cuốn sách xưa, nên tôi cũng kính cẩn thưa lại với bà, rằng các địa danh Gò Ruộng Quan có ở Tây Ninh từ thời vua Thiệu Trị (1841- 1847). Khi ấy quan Tuyên phủ sứ được lệnh chiêu tập dân xiêu tán lập các làng ấp mới. Binh lính cũng được tập trung về các gò hoang để vỡ ruộng khai hoang theo kế “ngụ binh ư nông”, nghĩa là ngày hòa bình thì làm dân, khi có giặc thì những nông dân ấy lại trở thành binh lính. Kể tới đây thì bà chủ miếu họ Phạm vội khoe ngay: vì thế mà cúng dinh hôm nay cũng lấy việc cúng binh làm trọng. Cúng binh là phải có heo quay, chứ không thể cúng chay. Nói thêm, bà là người có đạo Cao Đài nhưng khi về lại với tín ngưỡng dân gian thì vẫn cứ: “các cụ xưa sao thì nay vậy”. Vừa lúc đội trống lân gióng giả vang rền một bài trống trận mở màn thật hùng tráng, vài chục chàng trai ăn vận kiểu võ sinh đứng tấn, hai tay hai dùi thật điệu nghệ lướt trên mặt và tang trống, làm nên một thứ thanh âm khiến ai ai cũng nhấp nhổm chẳng thể ngồi yên. Trước mặt họ là hai tượng voi cỡ cao bằng người ta đứng chầu trước cửa dinh oai vệ. Vì nơi đây từng có chuyện truyền tụng một ông voi trận về tới đây thì gục ngã. Binh lính đành đào hố chôn ngay ở trên gò. Chỗ ấy nay cách ngôi đình chừng hai trăm mét. Lạ một điều, trên đám đất rộng bằng cái sân nhà ấy đất luôn trắng phớ vì cỏ không mọc được. Dân sở tại mới dựng nên một cái bàn thiên làm chỗ cho người tín ngưỡng đến thắp đèn nhang, bày hoa trái cúng voi.

Cũng cần kể thêm rằng dinh thờ Gò Duối đã không còn lụp xụp một gian nhỏ như ba, bốn năm về trước. Giờ dinh đã được xây mới ba gian, mấy nhịp đàng hoàng, cột đúc tường xây, mái chồng diêm bê tông giả ngói. Lại thêm con đường hơn hai cây số từ cổng đình Long Thành vào đã trải nhựa hơn một nửa nên dăm chiếc xe hơi chạy tới tận nơi dự lễ. Cũng nhờ thế mà đoàn múa lân sư chở được cả dàn cây sắt vào biểu diễn “Mai hoa thung” thật khí thế. Một tinh thần thượng võ bừng bừng. Ai bảo là những người lính trẻ nhập ngũ hôm nay không thừa kế chút gì từ tinh thần ấy của cha ông?

Gò Duối nằm ở mỏm đất xa nhất về phía Tây của huyện Hòa Thành. Vừa gần sát bên rạch Tây Ninh và xa hơn chút nữa là vàm Gò Chai ra sông Vàm Cỏ. Nước vẫn láng lai trên các dòng kênh bao bọc quanh gò. Và chung quanh chỉ một màu xanh miên man của lúa. Liệu đây có phải là những cánh đồng thời những người lính “ngụ binh ư nông” đến khai hoang vào giữa thế kỷ XIX hay không?

Xa hơn, về phía hạ nguồn sông Vàm Cỏ Đông còn có một nhánh sông rất quan trọng với miền đất ngũ long (nay là huyện Bến Cầu). Đấy là rạch Bảo. Ở đôi bờ con rạch này cũng có hai ngôi thờ tự đang tưng bừng lễ hội Kỳ yên vào giữa tháng Giêng. Bên ấp Bàu Tràm thuộc xã Tiên Thuận là đình Tiên Thuận. Bên ấp Long Thạnh thuộc xã Long Chữ là dinh “Quan lớn đại thần vàm Bảo Huỳnh Công Nghệ” mà người dân quen gọi tắt là dinh Ông Gốc. Tại sao gọi thế thì báo Tây Ninh cũng đã có bài viết và người dân địa phương lại càng biết rõ. Chỉ có điều mới nghe, mới biết đây! Rằng ông Gốc- Huỳnh Công Nghệ tướng quân khi mất đi đã phù hộ cho cư dân đôi bờ sông nước có được thủy lợi điều hòa. Bên này đã làm gì có nước kênh Đông, kênh Tây của lòng hồ. Tất cả còn phụ thuộc vào sông Vàm Cỏ. Vậy mới có những con kinh, rạch như rạch Hố Đồn, kinh Nhà Nước dẫn nước sông tưới tắm chan hòa các cánh đồng Long Chữ. Các nhà doanh nghiệp, Nhà nước cũng hăng hái rót vốn vào đây làm nên những cánh đồng “bốn nhà”. Và một điều cũng mới biết gần đây thôi, là ngày hội dinh 15 và 16 tháng Giêng, người dân các xã khác của Bến Cầu cũng kéo về dinh lễ tạ. Thì cũng nhờ rạch Bảo mà mới có chợ Cầu xưa trên bến dưới thuyền, cũng mới có rạch Xóm Khách tấp nập thuyền ghe của khách trú đến giao thương. Rồi Long Khánh, Long Thuận, Long Phước cũng đều được hưởng nguồn nước ngọt lành rạch Bảo. Dinh ông nay dù chon von một rẻo giữa đồng bên bờ rạch Bảo, nhưng đã được dân và các doanh nghiệp địa phương đóng góp tôn tạo khang trang hơn trước. Nhưng ngôi miếu nhỏ đặt “cốt ông” là vẫn như xưa, bốn cột gạch xây, mái tôn vừa đủ che cho một ngôi mộ tượng trưng, trên đặt chính cái gốc cây cứ trôi qua trôi lại ngược dòng con nước mà không rời bến sông ấy. Và con nước cứ lúc ròng, lúc lớn giữa đôi bờ dứa dại, tràm vàng hoang sơ như cả mấy trăm năm vẫn vậy. Lại là ông- Huỳnh Công Nghệ, một nhân vật còn chưa rõ về thân thế. Bởi Tây Ninh có đến mấy chuyện truyền tụng về ông. Nào ông vốn là dân lân, dân ấp từ làng Nhật Tảo, Long An cùng với người anh là Huỳnh Công Giản lên Tây Ninh mở đất lập làng giữa thế kỷ XVIII (1749), lại có truyền tụng các ông là quan được triều đình Huế cử vào trấn giữ biên cương từ đầu thế kỷ XIX (1814). Rồi trên tận ngọn rạch Sóc Om (sông Vịnh ngày nay) cũng có những chuyện truyền tụng về các ông. Nhưng có một thực tế là ít nhất đã có ba ngôi thờ tự ở dọc các triền sông suối ven Vàm Cỏ Đông để thờ ông. Vậy cứ tạm bằng lòng với tất cả những câu chuyện của dân gian truyền lại.

Lễ tống ôn tống quỷ ở đình Trường Đông.

Lễ tống ôn tống quỷ ở đình Trường Đông.

Và phím đàn nốt son đẹp nhất là đây, cũng ngay trên một bến sông Vàm. Đó là đình Trường Đông ở ấp Trường Ân. Lễ Kỳ yên đình cũng vào hai ngày 15 và 16 tháng Giêng. Thú vị nhất là đình như ở kề bên mép nước, nên thuyền ghe đi qua đều có thể nhìn rõ ông Hổ oai phong vẽ sau lưng miếu thần nông. Có gì thu hút ở đây khiến năm nào cũng rất đông trẻ em và nam thanh nữ tú về xem hội. Có lẽ do cảnh quan chăng, khi trước mặt kia là luênh loang sông nước chan đầy gió nắng. Xuồng ghe xếp lớp đậu dưới hàng cây gừa nghiêng ngả ra sông. Lễ hội ở đây vừa có cái mới, lại vừa xưa cũ. Mới thì như các màn múa lân đầy sáng tạo, tưng bừng, vừa ngộ nghĩnh đáng yêu như màn trình diễn giữa lân và địa trước sân đình. Mới và đầy tính nhân văn, quan tâm đến con người, đặc biệt trẻ em là mục chia xôi cho mọi người, phần nhiều là em bé. Cha mẹ bế hoặc dắt con đến, được người lớn chia cho từng nắm xôi trong mâm xôi cúng. Những bàn tay bé xíu chìa ra mới dễ thương sao! Thật khác xa với cảnh giành giật nhau cái gọi là lộc ở một vài lễ hội đã được ghi hình và chiếu trên đài. Người lớn cũng được chia những trái cây trên các mâm cúng ngoài sân vào cuối lễ. Tất cả diễn ra trong trật tự và những tiếng cười vui vẻ. Nhưng, thú vị nhất lại là công đoạn cuối cùng, tống tiễn quan ôn, tống quỷ bằng nghi thức thả thuyền ra giữa sông Vàm Cỏ Đông khi con nước đã ròng. Con thuyền năm nay mang số hiệu TN-01554, được trang trí thật đẹp, treo cả cờ hội và cờ Tổ quốc lại chứa đầy các phẩm vật cúng được nghênh tiễn ra bến, lên thuyền trong linh đình tiễn đưa có lân múa giữa rền vang tiếng mõ, trống, chiêng. Rất nhiều bạn trẻ đợi để xem màn thả thuyền ấy. Để mắt thấy con thuyền giấy lênh đênh xuôi dòng sông Vàm Cỏ. Và tôi tin, những ký ức ấy sẽ không mờ.

Theo Nguyễn Quang Văn (Tây Ninh Online)

Bạn có thể quan tâm