Thăm Bảo tàng Văn hóa Việt ở Mộc Bài

Với nhiều người Việt hiện nay, khi ngược dòng lịch sử có lẽ chỉ nhớ đến thời quốc tổ Hùng Vương. Nhưng bảo tàng này sẽ dẫn ta đi xa hơn, đến thời Kinh Dương Vương (2879 – trước Công nguyên) – được coi là thủy tổ của dân tộc Việt.

Gốm sứ và thuyền cổ

Gốm sứ và thuyền cổ

Sẽ có một bài học lịch sử ngắn gọn nên dễ nhớ ở ngay ô cầu thang ở chính giữa ngôi nhà. Trên ô vuông tum cầu thang có những ô cửa kính làm ngời sáng những tấm biển lớn chữ to treo bốn phía. Với nhiều người Việt hiện nay, khi ngược dòng lịch sử có lẽ chỉ nhớ đến thời quốc tổ Hùng Vương. Nhưng bảo tàng này sẽ dẫn ta đi xa hơn, đến thời Kinh Dương Vương (2879 – trước Công nguyên) – được coi là thủy tổ của dân tộc Việt. Tiếp theo là thời Lạc Long Quân (thế kỷ VII – VIII trước Công nguyên), ông lấy vợ là bà Âu Cơ với truyền thuyết ai ai cũng biết là bà Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng nở trăm con. Người con cả theo mẹ về đất Phong Châu được tôn làm vua, mở đầu thời đại Hùng Vương rạng danh trong lịch sử.

Đến các giai đoạn gần hơn thì không chỉ là các triều đại phong kiến tập quyền hùng mạnh như Đinh, Lê, Lý, Trần mà cả những giai đoạn trước đó như thời Hai Bà Trưng, Tiền Lý (541- 602), thời họ Khúc (Khúc Thừa Dụ: 905-939) cũng được kể đến với thời gian, niên hiệu rõ ràng. Sau nữa, dĩ nhiên sẽ tới các triều đại nhà Ngô, nhà Đinh, tiền Lê, Lý, Trần, hậu Lê, Mạc, Tây Sơn và cuối cùng là triều Nguyễn. Xem mà không khỏi nhớ lại những câu thơ hùng tráng Nguyễn Trãi viết trong đại cáo Bình Ngô: “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương. Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau song hào kiệt thời nào cũng có…”.

Cứ gọi là mê đi, hỡi những ai từng yêu mến, tự hào về Việt như cái tên của Bảo tàng này. Nếu như không gian ngoại thất kể cũng đã đủ cho người xem thán phục thì vào trong nội thất, ta chỉ còn biết kinh ngạc mà thôi. Hầu như tất cả những hiện vật đặc sắc nhất ở mọi thời kỳ, của mọi có trên đất nước đều có mặt trên diện tích gần 6.000m2 của 2 tầng nhà ấy. Vô số các loại bình, vò, chum, lọ, chén, tô bằng gốm sứ. Từ đất nung đến men lam, men nâu của gốm sứ Lý, Trần. Cả văn hóa Sa Huỳnh với vô số chiếc mộ chum cho đến những ghè, chóe rượu cần của văn hóa Tây Nguyên… Thuyền độc mộc từ thế kỷ XI, XII cho đến XV có hàng chục chiếc. Có chiếc còn hầu như nguyên vẹn. Trống đồng cả dãy vài chục cái, với đủ loại hoa văn nổi bật các vòng xoay người, thú rừng và những con chim hạc. Tượng nhà mồ Tây Nguyên gỗ đứng, nằm ngơ ngác. Tượng các vị thần Chăm-pa đỏ óng đất nung hay sẫm màu sa thạch. Cả bộ tượng Phúc Lộc Thọ lớn bằng người thật như lấy ra từ 3 thân gỗ lũa. Tất cả cứ ngời lên trong khối nhà ánh sáng rất dư thừa.

Nhân đây cũng xin góp ý luôn với chủ nhân của Bảo tàng văn hóa Việt. Rằng phần lớn vách tường bao bằng kính. Điều này đem lại lợi thế về mặt không gian trưng bày, đó là chan hòa ánh sáng. Nhưng, ngược lại nó cũng có thể làm cho các di vật cổ xưa bị tác động xấu, tăng gánh nặng cho công tác bảo tồn. Mà hiện vật nơi này thật quý. Có nhiều món chắc chắn đã có cả ngàn năm tuổi tác. Xin ví dụ về mấy loại hiện vật quý giá đã nằm trên giá, kệ trưng bày.

Linga đá sa thạch

Linga đá sa thạch

Chiếc Linga lớn nhất; đây là một ngẫu tượng thờ của tôn giáo Bà-la-môn xa xưa, có mặt trong di sản của nhiều dân tộc phương Nam như , văn hóa Chămpa và Khmer. Người ta cũng tìm được những ngẫu tượng thờ này ở di chỉ khảo cổ thánh địa Nam Cát Tiên những năm gần đây. Chiếc Linga ở Nam Cát Tiên có kích thước dài 2,1 mét, đường kính 0,68m, đặt trên bệ vuông (Yô- ni) mỗi chiều 2,62 mét được coi là bộ ngẫu tượng thờ lớn nhất Đông Nam Á. Còn Linga của Bảo tàng Văn hóa Việt – chỉ cao 1m50 nhưng đường kính có khi hơn tới 70cm. Quý hơn nữa, là chiếc Linga này hầu như nguyên vẹn, trừ một miếng vỡ bằng bàn tay. (Linga Cát Tiên bị vỡ nhiều ở phần đầu, Bảo tàng Lâm Đồng cũng đã phục chế lại, trưng bày ở sân vườn như một biểu tượng về một nền văn minh huy hoàng đã mất).

Loại hiện vật đáng kể thứ nhì chính là những hiện vật gốm thời Lý, mới tìm ra gần đây ở di tích hoàng thành Thăng Long – Hà Nội. Đó là bộ đầu đao đất nung của các cung điện hoàng thành xưa, dài khoảng 1 mét và cao chừng 7 tấc. Các phù điêu này tuyệt đẹp với các hình tượng rồng, phượng có đặc trưng thời nhà Lý, cách nay trên 1.000 năm.

Loại hiện vật đặc sắc thứ ba là bộ tượng và ngẫu tượng thờ của nền văn hóa Chămpa, cả đá lẫn đất nung. Những pho tượng vũ nữ Áp-sa-ra khuỳnh chân, cong tay múa. Những tượng Phật, hoặc thần Visnu, Laksmi, hay tượng thần mình người đầu voi… Di vật quý và cũng lạ nhất về kiểu dáng có thể là pho tượng Chăm bằng đất nung tạc một người đàn ông ngồi gõ mõ. Hình như trong các bảo tàng Chăm miền Trung chưa có kiểu thức này.

Trong vô vàn các hiện vật thuộc các nền văn hóa xa xưa của người Việt cổ, còn có một nhóm di vật đặc biệt lạ lùng, rất ít bảo tàng nào có được (ngoại trừ Bảo tàng Lịch sử quốc gia). Đó là các bộ tượng nhỏ, mà người ta thường kể tới chúng trên mặt thạp đồng Đào Thịnh – những tượng người nam và nữ, từng đôi một trong tư thế giao hoan vui vẻ. Ta sẽ gặp chúng ở đây, ngay trong Bảo tàng Văn hóa Việt – Mộc Bài. Mà là hàng chục đôi, mỗi tượng chỉ nhỏ như chiếc chuôi dao, muôn phần sinh động.

Tượng Chăm cổ đất nung

Tượng Chăm cổ đất nung

Vào tháng 9.2016, Tây Ninh tưng bừng lễ hội kỷ niệm 180 năm hình thành và phát triển. Truyền thông nhắc nhiều đến hành trình đi mở đất của cha, ông. Điều này có lẽ khiến ta sẽ dừng lại lâu hơn trước những con thuyền độc mộc ở các thế kỷ XV hay XVIII. Người ta bày thêm những chiếc nồi đồng trong lòng một trong số các con thuyền đó. Điều này gợi nhớ đến việc Bảo tàng tỉnh cũng từng vớt được trên sông những con thuyền với các dụng cụ bên trong- tô chén và nồi đất. Những hiện vật giản dị ấy nhắc ta một thời “nặng nhọc thuyền cày nước ngược” (thơ Vân An) của các lưu dân để làm nên một “đất nước muôn đời” (thơ Nguyễn Khoa Điềm).

Những điều đã kể trên đây, mới chiếm độ 1% những gì đang có ở Bảo tàng Văn hóa Việt – Mộc Bài.

 

Theo TRẦN VŨ (Tây Ninh Online)

Bạn có thể quan tâm