Tây Ninh kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai và đế quốc Mỹ (1945 -1975)

* Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 -1954)

Từ tiếng súng đầu tiên ở Suối Sâu (xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng), ngày 08/11/1945 đến kết thúc cuộc kháng chiến tháng 7/1954, chiến trường Tây Ninh là một trong những nơi khó khăn nhất của “Miền Đông gian lao mà anh dũng”.

Bia lịch sử An Tịnh tọa lạc tại ấp Suối Sâu, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng - nơi đây, ngày 08/11/1945 thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên đánh vào Tây Ninh

Bia lịch sử An Tịnh tọa lạc tại ấp Suối Sâu, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng – nơi đây, ngày 08/11/1945 thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên đánh vào Tây Ninh.

Với vị trí chiến lược quan trọng, có biên giới giáp với Vương quốc Campuchia, trấn giữ phía Tây Bắc Sài Gòn; có căn cứ Phân liên Khu ủy miền Đông; có trung tâm tôn giáo Cao Đài, nên Tây Ninh là nơi địch tập trung mọi âm mưu xảo quyệt: “chia để trị”, dùng người Khmer giết người Việt, dùng bọn phản động trong tôn giáo Cao Đài đánh Việt Minh. Chúng áp dụng chính sách “tam quang”, giết sạch, đốt sạch, phá sạch và dùng đủ các loại vũ khí tối tân lúc bấy giờ nhằm triệt phá vùng căn cứ kháng chiến.

Để giành thắng lợi, Đảng bộ Tây Ninh đã chỉ đạo Mặt trận và các đoàn thể vận động tổ chức chăm lo cuộc sống cho nhân dân, dù còn hạn hẹp; đồng thời, củng cố các tổ chức Đảng thành hệ thống lãnh đạo vững mạnh qua từng lúc thăng trầm. Từng bước thống nhất các lực lượng vũ trang, ngày 05/3/1946, Chi đội 11 Tây Ninh được thành lập. Đây là lực lượng vũ trang chính quy đầu tiên của tỉnh, đã thể hiện lòng trung thành vô hạn với Đảng, với cách mạng và nhân dân, với ý chí kiên cường bất khuất, với tinh thần quyết chiến quyết thắng đã bám đất, bám dân chiến đấu, được nhân dân yêu quý, tin tưởng. Qua những năm tháng chiến đấu, chịu đựng biết bao hy sinh gian khổ, ác liệt, thiếu thốn trăm bề, nhưng được sự đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Chi đội 11 chẳng những không bị tiêu diệt như ý đồ của thực dân Pháp và bọn phản động trong tôn giáo Cao Đài mong muốn, mà đơn vị đã chiến đấu và chiến thắng, lấy súng giặc trang bị cho mình, tự lực sản xuất được vũ khí phục vụ kịp thời cho yêu cầu của chiến trường. Trong gian khổ, tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ Chi đội 11 được rèn luyện càng thêm cao và vững vàng hơn.

Di tích lịch sử căn cứ Dương Minh Châu, tọa lạc tại ấp Phước Tân, xã Phước Ninh, huyện Dương Minh Châu - Nơi đây là một căn cứ địa cách mạng có vị trí quân sự khá đặc biệt trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ

Di tích lịch sử căn cứ Dương Minh Châu, tọa lạc tại ấp Phước Tân, xã Phước Ninh, huyện Dương Minh Châu – Nơi đây là một căn cứ địa cách mạng có vị trí quân sự khá đặc biệt trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Cuối năm 1946, Hội nghị đảng viên có ý nghĩa quyết định như Đại hội Đảng bộ tỉnh vì thành lập Tỉnh ủy chính thức, mở ra thời kỳ phát triển mới của Đảng bộ tỉnh Tây Ninh tiếp tục đưa cuộc kháng chiến đi lên. Cũng trong thời kỳ này, Ủy ban Kháng chiến – Hành chính tỉnh được thành lập và củng cố, ông Dương Minh Châu là đại biểu Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được cử làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến – Hành chính tỉnh.

Trung đoàn 311 phổ biến kế hoạch tác chiến

Trung đoàn 311 phổ biến kế hoạch tác chiến

Ngày 07/02/1947, sau khi chuyển giao vũ khí theo hiệp ước quân sự với lực lượng phản động trong tôn giáo Cao Đài, giặc Pháp càn quét vào chiến khu ở Gò Nổi, Cây Chò, Xóm Mía, Rừng Nhum (Châu Thành). Các cơ quan chính quyền, Mặt trận Việt Minh tỉnh ở trong vòng vây của giặc, đồng chí Dương Minh Châu đã chiến đấu và anh dũng hy sinh. Để khắc ghi công ơn và ghi nhớ người anh hùng liệt sĩ, năm 1951, tỉnh Gia Định Ninh quyết định thành lập huyện căn cứ Dương Minh Châu.

Tháng 7/1948, Chi đội 11 được phát triển thành Trung đoàn 311 Thái Văn Lung, lực lượng vũ trang 3 thứ quân: chủ lực, bộ đội địa phương và du kích lớn mạnh. Trung đoàn luôn giữ vững tinh thần cách mạng tiến công, vừa đánh địch tại địa phương, vừa bảo vệ căn cứ địa kháng chiến của Phân liên Khu ủy miền Đông.

Từ 1951 đến 1954, Trung ương Cục miền Nam ra đời thay cho Xứ ủy Nam bộ, đã lãnh đạo quân dân toàn Miền chống Pháp thắng lợi, chấm dứt cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp lần thứ hai.

* Trong 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954 – 1975)

Đảng bộ và quân dân Tây Ninh lại đứng trước những khó khăn gian khổ và ác liệt hơn. Ở từng thời kỳ của cuộc chiến tranh chống Mỹ – ngụy, chiến trường Tây Ninh luôn diễn ra ác liệt, tuy chịu nhiều tổn thất, nhưng quân dân Tây Ninh tự giác chấp nhận hy sinh, từng bước tiến lên.

Chính quyền Ngô Đình Diệm bắt bớ, tra tấn, đánh đập bất cứ ai chúng cho là cộng sản

Chính quyền Ngô Đình Diệm bắt bớ, tra tấn, đánh đập bất cứ ai chúng cho là cộng sản

Ở giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 -1960), chính quyền Ngô Đình Diệm với những âm mưu thủ đoạn thâm độc nhất, ra sức đàn áp các lực lượng yêu nước, tiêu diệt ý chí độc lập, thống nhất nước nhà của nhân dân miền Nam nói chung và Tây Ninh nói riêng. Kẻ thù không từ bỏ một thủ đoạn độc ác nào để bắt, giam cầm, tàn sát các chiến sĩ cộng sản và những người yêu nước.

Cuối năm 1955, địch bắt đầu chiến dịch khủng bố những người kháng chiến cũ, thậm chí bắt sống rồi mổ bụng, moi gan những người cách mạng.

Ngày 23/10/1955, địch tổ chức “trưng cầu dân ý” nhằm phế truất Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống. Bảo Đại và Ngô Đình Diệm đều là tay sai của Mỹ nên nhân dân tẩy chay không đi bỏ phiếu, hoặc bỏ phiếu không hợp lệ bằng cách dùng ngón tay bấm thủng ảnh Bảo Đại lẫn Ngô Đình Diệm và trì hoãn bỏ phiếu. Nhiều nơi, nhân dân đấu tranh bằng biểu ngữ: “Đả đảo Ngô Đình Diệm, ủng hộ Hồ Chí Minh “.

Để hợp thức hóa bộ máy ngụy quyền Sài Gòn, ngày 04/3/1956, địch tổ chức bầu cử quốc hội. Nhân dân Tây Ninh phản đối quyết liệt, đòi “Đả đảo quốc hội bù nhìn”, “ủng hộ Hồ Chí Minh”. Ở các xã căn cứ kháng chiến cũ, biên giới, đồng bào nổi dậy cướp thùng phiếu, bắt bọn công dân vụ, xô sập nhà bầu cử…

Từ tháng 7/1956, địch dấn sâu thêm vào tội ác bằng chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”. Địch chọn Tây Ninh làm thí điểm cho chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” ở miền Đông Nam bộ mang tên Trương Tấn Bửu để rút kinh nghiệm triển khai ra các tỉnh Chợ Lớn, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa. Chiến dịch đẫm máu này bắt đầu từ ngày 13/7/1956. Địch đưa bọn công an, tình báo dò tin tức, điều tra cơ sở cách mạng và tìm dấu vết hoạt động của cán bộ ta. Cho lính chủ lực và bảo an phối hợp với tề, vệ ở địa phương bao vây, chốt chặn các cửa ngõ làng, ấp không cho dân ra vào. Sau đó, tập hợp quần chúng để tổ chức mít tinh “tố cộng”, nói xấu cộng sản, tuyên bố ly khai, xé cờ Đảng.

Bằng chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”, nguy quyền tay sai Ngô Đình Diệm gieo rắc tội ác khủng khiếp với cách mạng miền Nam. Những năm 1957 – 1958, Diệm dấn sâu hơn vào con đường phát xít hóa, đầu độc tù nhân, giam cầm và bắn giết bất cứ ai mà chúng nghi là cộng sản hoặc theo cộng sản. Đỉnh điểm của tội ác này là việc Diệm ban hành luật 10/59, ngày 06 tháng 5 năm 1959, đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật, lê máy chém đi khắp miền Nam, tàn sát cán bộ cách mạng và đồng bào yêu nước.

Song, những cán bộ, đảng viên còn lại vẫn kiên cường bám trụ để lãnh đạo quần chúng đấu tranh. Nhiều phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất nước nhà, đòi quyền dân sinh, dân chủ diễn ra liên tục. Nhân dân kiên quyết không tố cộng, không ly khai, không xé cờ Đảng, không khai báo cơ sở cách mạng, mặc dù đã có hàng trăm người bị bắt cầm tù, tra tấn, có người bị đày ra Côn Đảo.

Phụ nữ biểu tình đòi thành lập Chính quyền dân chủ

Phụ nữ biểu tình đòi thành lập Chính quyền dân chủ

Tháng 02/1957, được tin Ngô Đình Diệm sẽ đến Buôn Ma Thuột dự khai mạc Hội chợ kinh tế cao nguyên, Ban Địch tình Tỉnh ủy Tây Ninh chỉ đạo đồng chí Hà Minh Trí (tên thật là Phan Văn Điền, tự Mười Thương), dưới sự hỗ trợ của đồng chí Nguyễn Thị Văn (Bảy Nhanh) làm nhiệm vụ diệt Ngô Đình Diệm. Cuộc ám sát Diệm diễn ra không thành công, nhưng đây là phát súng đầu tiên biểu thị tinh thần của nhân dân miền Nam cảnh báo chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ.

Không thể chịu đựng mãi ách thống trị của Mỹ – Diệm, Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (01/1959), đã mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên bằng chiến thắng Tua Hai (01/1960), mở đầu cho cao trào Đồng Khởi vũ trang toàn miền Đông Nam bộ đánh bại chiến lược “Chiến tranh một phía” của Mỹ – Diệm, mở ra tình thế cách mạng mới, từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công chiến lược, buộc địch phải bị động đối phó.

Trận tiến công Tua Hai diễn ra lúc 0 giờ 30 phút ngày 26/01/1960. Lực lượng ta đã chiến đấu kiên cường, tiêu diệt 400 tên địch, bắt 500 tên, thu 1.200 súng các loại, phá hủy nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh. Tua Hai là thắng lợi đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng. Chiến thắng vang dội này đã cổ vũ phong trào đấu tranh của nhân dân Tây Ninh, miền Đông Nam bộ và cả miền Nam vùng lên mạnh mẽ, mở đầu cho thời kỳ đấu tranh chính trị có vũ trang hỗ trợ. Đồng khởi Tua Hai ở Tây Ninh “là loại hình đồng khởi khác, bắt đầu từ tiến công về quân sự kết hợp với nổi dậy của quần chúng “.

Chiến lợi phẩm thu được trong chiến thắng Tua Hai, ngày 26/01/1960

Chiến lợi phẩm thu được trong chiến thắng Tua Hai, ngày 26/01/1960

Sau chiến thắng Tua Hai, ngày 01/02/1960, D.14 – đơn vị vũ trang đầu tiên của Tây Ninh ra đời trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ.

Tiểu đoàn 14 trong kháng chiến chống Mỹ

Tiểu đoàn 14 trong kháng chiến chống Mỹ

Trước những thất bại liên tiếp và nặng nề, ngày 12/3/1960, chính quyền Ngô Đình Diệm đưa đồng chí Hoàng Lê Kha, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách quân sự, kiêm phụ trách Thị xã Tây Ninh và huyện Châu Thành, từ đề lao Chí Hòa về xử bằng máy chém tại Bàu Heo (xã Trí Bình) theo luật 10/59, nhằm lung lạc tinh thần nhân dân, ngăn chặn đà tiến công của cách mạng. Nhưng âm mưu của chúng đã bị thất bại. Khí phách hiên ngang của đồng chí Hoàng Lê Kha bên máy chém trước giờ phút hy sinh đã thể hiện phẩm chất kiên cường, bất khuất của người chiến sĩ cộng sản. Máu đồng chí đổ xuống đã tô thắm cho ngọn cờ bách chiến, bách thắng của Đảng, của quân và dân Việt Nam anh hùng. Tên tuổi của vị Anh hùng liệt sĩ Hoàng Lê Kha là một biểu tượng cách mạng sáng ngời, là tấm gương để các thế hệ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân Tây Ninh noi theo.

Theo đề xuất của Tỉnh ủy Tây Ninh, Khu ủy miền Đông đã chấp thuận cho Tây Ninh thành lập Trường Nội trú mang tên Anh hùng liệt sĩ Hoàng Lê Kha, ngôi trường cách mạng đầu tiên của nền giáo dục miền Nam. Trường Hoàng Lê Kha ra đời giữa năm 1962, là một ngôi trường đặc biệt, không chỉ làm nhiệm vụ đào tạo văn hóa mà còn là nơi nuôi dạy học sinh là con em cán bộ cách mạng và con em các gia đình liệt sĩ, bảo vệ an toàn cho các em trong bom đạn ác liệt của chiến tranh. Hầu hết những người đã từng sống, lao động, học tập, rèn luyện dưới mái trường này đều trở thành những công dân tốt và hiện nay nhiều người đã trở thành những nhà khoa học, thành cán bộ lãnh đạo chủ chốt của tỉnh và ở cả Trung ương.

Bia tưởng niệm đồng chí Hoàng Lê Kha, tại xã Trí Bình, huyện Châu Thành

Bia tưởng niệm đồng chí Hoàng Lê Kha, tại xã Trí Bình, huyện Châu Thành

Thất bại chiến lược “Chiến tranh một phía”, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” nhằm gom dân lập ấp chiến lược. Kế hoạch lập ấp chiến lược của địch gặp phải sự đấu tranh quyết liệt của nhân dân khi chúng gom, xúc dân. Điển hình là đồng bào ở Bàu Mây (xã An Tịnh – huyện Trảng Bàng) kiên cường chống gom dân vào ấp chiến lược. Chính cuộc đấu tranh chống gom dân ở ấp Bàu Mây đã xuất hiện đầu tiên ở địa phương khẩu hiệu “một tấc không đi, một ly không dời”.

Bằng thủ đoạn đánh phá ác liệt, đến giữa năm 1963, địch xây dựng được 94 ấp chiến lược trong toàn tỉnh. Phá ấp chiến lược được xem là công tác chiến đấu. Cuộc đấu tranh này giữa ta và địch giằng co quyết liệt. Nổi bật nhất là cuộc đấu tranh của hàng ngàn đồng bào xã Gia Lộc (huyện Trảng Bàng) kết hợp 3 mũi giáp công, 15 lần phá đi phá lại và phá banh ấp chiến lược ngã ba Hai Châu, phá ấp chiến lược Gia Lâm 10 lần, phá ấp chiến lược Gia Tân 7 lần, phá ấp chiến lược Lộc Trát 17 lần và ấp Xóm Sóc 15 lần.

Tại huyện Gò Dầu, trước sự đánh phá của địch, nhiều cán bộ, đảng viên và chiến sĩ hy sinh, Huyện ủy phát động phong trào “Quyết tử giữ Gò Dầu”. Lực lượng vũ trang cách mạng và quần chúng kết hợp đấu tranh từng bước đẩy lùi địch khỏi các xã Phước Thạnh, Hiệp Thạnh.

Ấp chiến lược - nơi Mỹ kềm kẹp đồng bào, tách dân khỏi lực lượng cách mạng bị quân dân ta phá banh

Ấp chiến lược – nơi Mỹ kềm kẹp đồng bào, tách dân khỏi lực lượng cách mạng bị quân dân ta phá banh.

Trước sự chống trả quyết liệt của quân dân Tây Ninh, kế hoạch bình định gom dân lập ấp chiến lược của địch xem như bị phá sản. Tính từ đầu năm 1962 đến cuối năm 1964, địch chỉ xây dựng được 94 ấp, nhưng bị phá rã, phá hỏng trên 74 ấp. Thất bại này, địch phải thú nhận: công cuộc thực thi bình định, diệt cộng ở Tây Ninh chưa đạt tới 1/3 kế hoạch, quyền chủ động chiến trường 2/3 nằm trong tay Việt cộng.

Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, ngụy quyền Sài Gòn đứng trước nguy cơ sụp đổ, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” nhằm cứu vãn tình thế và giành thắng lợi trong thời gian ngắn nhất bằng chính lực lượng Mỹ.

Tỉnh Tây Ninh là một trong những địa bàn trọng điểm của chiến lược “tìm diệt” của đế quốc Mỹ. Tìm diệt cơ quan Trung ương Cục miền Nam, “đánh gãy xương sống” chủ lực Quân giải phóng, xé nát căn cứ… là mục tiêu của chúng ở đây.

Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, Đảng bộ tỉnh Tây Ninh thống nhất hành động từ đảng viên đến quần chúng sẵn sàng bước vào thời kỳ trực tiếp đánh Mỹ. Quân dân Tây Ninh chủ động tổ chức thế trận chiến tranh nhân dân, tìm mọi phương thức đánh địch khắp ba vùng với ba thứ quân, ba mũi giáp công; đồng thời tạo điều kiện và phối hợp lực lượng cấp trên cùng đánh Mỹ.

Tháng 10/1965, đế quốc Mỹ đưa lữ đoàn 196 lên chiếm đóng Trảng Lớn (huyện Châu Thành). Tỉnh ủy chủ trương xây dựng “Vành đai diệt Mỹ”. Những năm tháng kiên cường đánh Mỹ đã chứng tỏ tinh thần quyết tâm đánh Mỹ của quân dân huyện Châu Thành. Đế quốc Mỹ dùng mọi phương tiện chiến tranh hiện đại gây khó khăn cho các chiến sĩ ở “vành đai”, nhưng với lòng căm thù giặc sâu sắc, du kích xã và bộ đội huyện khắc phục khó khăn, tìm phương cách đánh Mỹ đầy sáng tạo, dũng cảm gây cho địch nhiều thất bại nặng nề.

Những chiến thắng liên tiếp của “Vành đai diệt Mỹ” ở Trảng Lớn chứng tỏ tinh thần quyết tâm đánh Mỹ của quân dân huyện Châu Thành, là nét đặc trưng nổi bật của nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh nhân dân của Đảng bộ Tây Ninh.

Khi đã triển khai lực lượng đều khắp và sau giai đoạn “tìm hiểu khả năng của đối phương”, quân Mỹ bắt đầu thực hiện kế hoạch phản công vào mùa khô lần thứ nhất (1965 – 1966). Trên chiến trường miền Đông Nam bộ, quân Mỹ mở 08 cuộc càn, trong đó có ba cuộc càn trực tiếp vào Tây Ninh: cuộc càn Masitff, Hattisburg, Birmingham. Càn quét trên chiến trường Tây Ninh, quân Mỹ sử dụng mật độ bom, pháo dày đặc, rải chất độc hóa học rất nhiều nhất là ở Bời Lời (Trảng Bàng), Bà Hảo (Dương Minh Châu). Đế quốc Mỹ dùng chất độc có nồng độ cao, ngoài loại rải, phun, còn có loại chứa trong thùng phuy lớn thả xuống, loại này không tan nhanh mà từ từ khuyết tán nên thời gian nhiễm độc kéo dài. Hầu hết rừng Tây Ninh chỉ còn cây trụi lá. Các cuộc càn vấp phải sự chống trả liên tục và mãnh liệt của quân dân Tây Ninh khiến kế hoạch của Mỹ bị phá vỡ, buộc chúng phải kết thúc sớm cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất trước tháng 6/1966.

Rừng Tây Ninh bị chất độc hóa học và bom, đạn của đế quốc Mỹ tàn phá

Rừng Tây Ninh bị chất độc hóa học và bom, đạn của đế quốc Mỹ tàn phá

Thất bại nặng nề trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất (1965 -1966) làm cho tinh thần chiến đấu của quân Mỹ sa sút nghiêm trọng, nội bộ mâu thuẫn gay gắt. Tuy nhiên, đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố tiếp tục tăng quân, tăng phương tiện chiến tranh, mở cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai (1966 -1967) với hy vọng tìm ra quân giải phóng trên chiến trường có lợi cho chúng.

Bước vào mùa khô 1966 – 1967, đế quốc Mỹ mở cuộc hành quân Attelboro đánh vào huyện căn cứ Dương Minh Châu từ ngày 12/10/1966 đến ngày 25/11/1966, nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường, chủ yếu tại chiến trường miền Đông Nam bộ.

Hàng trăm trực thăng Mỹ đổ quân vào căn cứ Dương Minh Châu trong chiến dịch Attelboro

Hàng trăm trực thăng Mỹ đổ quân vào căn cứ Dương Minh Châu trong chiến dịch Attelboro

Để đối phó với cuộc hành quân lớn này của địch, lực lượng vũ trang của tỉnh kết hợp với chủ lực Miền (Trung đoàn 16 thuộc Sư đoàn 9) và bộ đội địa phương huyện, du kích xã của huyện Dương Minh Châu, cán bộ, nhân viên cơ quan Huyện ủy tổ chức chống càn tại chỗ, bảo vệ căn cứ. Các trận đánh chống càn của lực lượng cách mạng gây cho địch nhiều thiệt hại, tên tướng chỉ huy Đờ-xốt-xuya bị cách chức tại trận, 4.500 lính Mỹ ngụy bị diệt, trong đó có 1.700 tên Mỹ.

Chiến thắng cuộc càn Attelboro, quân dân ta khẳng định khả năng bảo vệ căn cứ trước những cuộc tấn công lớn của Mỹ. Đối với đế quốc Mỹ, thất bại này làm tăng thêm sự ngờ vực trong nhân dân và Quốc hội Mỹ, làm dấy lên phong trào nhân dân Mỹ yêu chuộng hòa bình chống chiến tranh Việt Nam.

Từ ngày 08/01/1967 đến ngày 26/01/1967, đế quốc Mỹ lại tiến hành cuộc càn Cedarfall đánh vào vùng tam giác sắt Củ Chi, Bến Cát, Bến Súc, Long Nguyên, Hố Bò và một phần huyện Trảng Bàng (An Tịnh, Lộc Hưng). Trên toàn mặt trận địch đổ bộ, Trung đoàn 2 thuộc Sư đoàn 9 của lực lượng chủ lực Miền chặn đánh quyết liệt, loại khỏi vòng chiến đấu 5.500 tên, trong đó có 2.500 tên Mỹ.

Hành quân vào chiến dịch chống cuộc càn Junction City, năm 1967

Hành quân vào chiến dịch chống cuộc càn Junction City, năm 1967

Sau thất bại hai cuộc càn Attelboro và Cedarfall, quân Mỹ tiếp tục mở cuộc càn Junction City từ ngày 22/02/1967 đến ngày 15/4/1967, với 45.000 quân và nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại.

Đây là cuộc càn lớn nhất và nhiều tham vọng nhất của đế quốc Mỹ từ khi đưa quân vào xâm lược nước ta, đánh vào khu căn cứ Bắc Tây Ninh, nhằm tiêu diệt Trung ương Cục cơ quan lãnh đạo kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam, diệt Sư đoàn 9 Quân giải phóng và Đài Phát thanh giải phóng.

Quyết đập tan tham vọng của địch phối hợp với lực lượng của trên, theo chỉ đạo của Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Quân sự Miền, Tây Ninh tổ chức lực lượng vành đai phía sau hùng hậu, hình thành thế trận nhân dân khắp 3 vùng với 3 thứ quân, vừa chiến đấu, vừa đảm bảo công tác hậu phương phục vụ chiến đấu.

Đồng bào Tây Ninh tích cực chuẩn bị lương thực phục vụ cho tiền tuyến

Đồng bào Tây Ninh tích cực chuẩn bị lương thực phục vụ cho tiền tuyến

Nhằm tiêu hao, phân tán binh lực địch, tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, không gian và thế trận chiến đấu cho bộ đội chủ lực của Miền, quân và dân Tây Ninh tổ chức tiến công địch trên các trục lộ giao thông, làm gián đoạn hành lang vận chuyển của chúng. Đồng thời, tổ chức đánh địch ở các cứ điểm, phá kho tàng, đánh phá ấp chiến lược.

Trong trận chiến này, huyện Tà Đạt của khu căn cứ Bắc Tây Ninh (được thành lập tháng 6/1966) theo phương châm tác chiến phòng thủ bảo vệ căn cứ của Bộ Chỉ huy Miền, như một pháo đài kiên cố, chiến đấu rất ngoan cường, làm thất bại các mũi tiến công của 6 lữ đoàn bộ binh, nhảy dù và đổ bộ trực thăng của Mỹ, bảo vệ kho tàng, bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ cho chiến đấu.

Tại vành đai phía sau, lực lượng 3 thứ quân của Tây Ninh ngoài tham gia diệt địch vận chuyển trên các trục lộ giao thông 19,22,26… lập chướng ngại vật làm chậm bước tiến quân của địch, bộ đội các địa phương đã tổ chức đánh diệt các cứ điểm của địch. Bộ đội huyện Tòa Thánh cùng du kích và nhân dân xã Trường Hòa đã diệt gọn đội bình định và đánh tan đại đội bảo an 276. Lực lượng huyện Dương Minh Châu được trên hỗ trợ diệt gọn đại đội bảo an ở Chà Là. Phong trào quần chúng trong và ngoài ấp chiến lược liên tục nổi dậy kết hợp với du kích diệt gọn từng tiểu đội, trung đội dân vệ và đấu tranh chống phi pháo, chống càn quét diễn ra ác liệt ở các huyện Trảng Bàng, Gò Dầu, Châu Thành, Bến Cầu.

Trên mặt trận chính trị, ta tổ chức quần chúng nhân dân đấu tranh vạch mặt bọn tay sai tình báo, tự vệ mật, đặc biệt là đối tượng đầu sỏ công an, bình định, thám báo… hỗ trợ cho phong trào chung đạt thắng lợi.

Thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến tiếp lương, tải đạn cho Quân giải phóng đánh bại cuộc càn Junction City của đế quốc Mỹ năm 1967

Thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến tiếp lương, tải đạn cho Quân giải phóng đánh bại cuộc càn Junction City của đế quốc Mỹ năm 1967.

Qua 53 ngày đêm, cuộc hành quân trên bộ lớn nhất của Mỹ trên chiến trường miền Nam đã bị quân, dân vùng căn cứ và quân dân Tây Ninh bẻ gãy hoàn toàn. Ta đã diệt gọn 02 tiểu đoàn, 11 đại đội bộ binh, 01 tiểu đoàn pháo binh, 09 chi đoàn xe thiết giáp, tiêu hao nặng 03 tiểu đoàn bộ binh, 01 tiểu đoàn dù, loại khỏi vòng chiến đấu 14.233 tên Mỹ, phá hủy 922 xe (có 775 xe thiết giáp), 112 trong số 256 khẩu pháo, bắn rơi 160 máy bay trong đó có 114 trực thăng. Cuộc càn Junction City của địch thất bại hoàn toàn.

Một trong hàng trăm chiếc xe tăng của đế quốc Mỹ bị bắn cháy tháng 3/1967, tại Căn cứ Bắc Tây Ninh

Một trong hàng trăm chiếc xe tăng của đế quốc Mỹ bị bắn cháy tháng 3/1967, tại Căn cứ Bắc Tây Ninh.

Đánh bại cuộc càn Junction City, tạo ra cục diện chiến lược mới có lợi cho ta trên chiến trường. Từ đó, tạo điều kiện chuẩn bị mọi mặt để tiến lên Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968.

Trong 03 đợt Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, quân dân Tây Ninh giữ vững và chủ động chiến trường, góp phần cùng toàn miền làm đảo lộn thế chiến lược của địch, làm địch suy yếu, giảm ý chí xâm lược, buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn Hội nghị Paris.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt xuân Mậu Thân năm 1968 của quân dân miền Nam làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, nhưng đế quốc Mỹ vẫn chưa chịu từ bỏ dã tâm chiếm giữ miền Nam Việt Nam bằng việc chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh “, thay màu da cho xác chết, mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương nhằm giành thắng lợi mà không phải dùng đến lực lượng trên bộ của Mỹ.

Trên chiến trường Tây Ninh, địch mở nhiều cuộc lấn chiếm, nhất là phải giữ cho được địa bàn Gò Dầu vì đây là đường giao thông huyết mạch Sài Gòn – Thị xã Tây Ninh – Dầu Tiếng, giữ được cửa ngõ lên Campuchia. Địch mở liên tiếp chiến dịch Nguyễn Trãi I, Nguyễn Trãi II đánh phá suốt 5 tháng ở các xã: Thạnh Đức, Cẩm Giang, Phước Thạnh, Thanh Phước, Hiệp Thạnh, nhằm thực hiện chính sách “giết sạch, đốt sạch, phá sạch “.

Di tích lịch sử Căn cứ Lõm vùng ruột Gò Dầu, tọa lạc tại ấp Phước Bình, xã Phước Thạnh, huyện Gò Dầu - Nơi đây Huyện ủy và Huyện đội đã bám trụ dài ngày nhất để chỉ đạo hai lần “Quyết tử giữ Gò Dầu”. Lần thứ nhất (1964 -1965), lần thứ hai (10/1968 -12/1969)

Di tích lịch sử Căn cứ Lõm vùng ruột Gò Dầu, tọa lạc tại ấp Phước Bình, xã Phước Thạnh, huyện Gò Dầu – Nơi đây Huyện ủy và Huyện đội đã bám trụ dài ngày nhất để chỉ đạo hai lần “Quyết tử giữ Gò Dầu”. Lần thứ nhất (1964 -1965), lần thứ hai (10/1968 -12/1969).

Trước tình hình đó, Tỉnh ủy chỉ đạo phát động phong trào “Quyết tử giữ Gò Dầu” lần thứ hai. Đợt “Quyết tử giữ Gò Dầu” lần này diễn ra hết sức quyết liệt, lực lượng vũ trang huyện tranh chấp với địch từng bờ rào, lũy tre, từng mảnh đất, mái nhà và chấp nhận hy sinh. Mỗi tháng có từ 20 chiến sĩ trở lên bị thương, bị bắt hoặc hy sinh, nhưng số còn lại vẫn kiên cường bám trụ. Cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong huyện ngày càng có kinh nghiệm hơn trong việc xây dựng hầm bí mật, công tác bám trụ ngày càng có kết quả. Thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng được củng cố và phát triển, bảo đảm an toàn cho lực lượng bám trụ trong việc chống địch lấn chiếm bình định, ủi phá địa hình.

Qua 16 tháng chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh (từ tháng 9/1968 đến tháng 12/1969), quân và dân huyện Gò Dầu đánh bại từng bước những âm mưu, thủ đoạn bình định cấp tốc của địch. Thắng lợi này là kết quả của sự hy sinh xương máu của nhiều đồng chí, đồng bào để khôi phục lại vùng ven Gò Dầu, một địa bàn có tầm quan trọng chiến lược trong chiến tranh nhân dân.

Trên cơ sở thắng lợi vang dội ở đường 9 Nam Lào và Đông Bắc Campuchia năm 1971, Bộ Chính trị quyết định nắm lấy thời cơ lớn, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua. Thi hành nghị quyết của Bộ Chính trị, Bộ Chỉ huy Quân sự Miền quyết định mở chiến dịch Nguyễn Huệ tại Tây Ninh, ta tiêu diệt và bức rút 10 cụm chốt của địch từ Xa Mát, Thiện Ngôn, Cần Đăng, Trại Bí, Vịnh, Ninh Điền, Trung tâm truyền tin núi Bà Đen, Kà Tum, Bổ Túc và Đồng Pan. Sau đó, bọn địch ở Bàu Cỏ, Lộc Ninh cũng rút chạy tiếp. Kết quả toàn bộ các cụm chốt trong vùng căn cứ đều do lực lượng cách mạng làm chủ hoàn toàn, mở ra một hành lang giải phóng rộng lớn liên hoàn từ Tây Bắc sang Đông Nam tỉnh.

Thắng lợi cuộc tiến công chiến lược ở miền Nam kết hợp với chiến thắng đập tan cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B52 ở miền Bắc cuối năm 1972 đánh dấu thất bại của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Paris (27/01/1973) về Việt Nam, chấp nhận thua trận và rút quân về nước.

Quân Mỹ rút về nước, nhưng ngụy quyền chưa nhào. Chúng vẫn hung hăng tiếp tục chiến tranh. Cùng với quân dân miền Nam, quân dân Tây Ninh liên tục tiến công địch. Đặc biệt là đêm ngày 6 rạng ngày 07/01/1975, bộ đội ta đánh một trận quyết định trên đỉnh núi Bà Đen và hoàn toàn tiêu diệt cứ điểm này. Sáng ngày 07/01/1975, cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên đỉnh núi. Từ cao độ 986m, pháo binh quân giải phóng khống chế toàn bộ hoạt động của địch ở Thị xã Tây Ninh.

Giải phóng đỉnh Núi Bà Đen, sáng ngày 07/01/1975

Giải phóng đỉnh Núi Bà Đen, sáng ngày 07/01/1975

Sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột, Huế, Đà Nẵng, ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị phê chuẩn chiến dịch tiến công giải phóng Sài Gòn – Gia Định là chiến dịch Hồ Chí Minh. Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền giao nhiệm vụ cụ thể cho Tây Ninh:

1- Tây Ninh phải tự lực giải phóng địa phương mình.

2- Phải tổ chức đánh địch liên tục để kiềm chân Sư đoàn 25, liên đoàn biệt kích 81, và cả lực lượng địch ở địa phương không cho chúng rút chạy về Sài Gòn để góp phần tạo điều kiện cho lực lượng chủ lực của ta tấn công giải phóng Sài Gòn.

Với khí thế vô cùng sôi nổi, chỉ trong vòng 20 ngày kể từ ngày 4 đến ngày 24/4/1975, trên 3.000 thanh niên, trung niên tình nguyện tham gia lực lượng vũ trang, tỉnh tổ chức 9 tiểu đoàn, cùng với 3 tiểu đoàn có trước đây là 12 tiểu đoàn tiến công tự lực giải phóng tỉnh.

11 giờ, ngày 30/4/1975, toàn bộ Ban Chỉ huy Tiểu khu Tây Ninh, 13 tên tiểu đoàn trưởng, 2 quận trưởng Phú Khương, Phước Ninh và các Trưởng ty do Bùi Đức Tài – Tỉnh trưởng Tây Ninh dẫn đầu tập trung tại trụ sở xã Long Thành (Báo Quốc Từ đối diện với sân vận động Long Hoa) nhận quy chế đầu hàng do đồng chí Nguyễn Thanh Dương, Chỉ huy trưởng chiến dịch giải phóng Tây Ninh công bố.

Đúng 11 giờ, ngày 30/4/1975, Thị xã Tây Ninh được hoàn toàn giải phóng.

Mít tinh mừng chiến thắng 30/4/1975 tại sân vận động Tây Ninh

Mít tinh mừng chiến thắng 30/4/1975 tại sân vận động Tây Ninh

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, bằng sức mạnh tổng hợp được phát huy cao độ trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, quân dân Tây Ninh hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ trên giao, tự lực đứng lên giải phóng tỉnh nhà, đồng thời góp phần xứng đáng vào công cuộc giải phóng miền Nam, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc kéo dài gần 21 năm.

Theo Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Tây Ninh

Bạn có thể quan tâm