Tây Ninh đầu năm 1921

Bởi 95 năm đã trôi qua, “châu thành Tây Ninh”- từ một “châu thành” nhỏ (do có đặt dinh quan chánh bố đầu tỉnh nhưng vẫn chỉ là một xã) ngày ấy, nay đã trở thành đô thị loại ba- thành phố Tây Ninh.

Cầu Gò Dầu xưa.

Cầu Gò Dầu xưa.

Vẫn là của tác giả Biến Ngũ Nhy, bài đăng báo Công Luận bắt đầu từ số 419, ngày 8.7.1921. Đó là loạt bài Tây Ninh- Vũng Tàu du ký in làm nhiều kỳ. Ta có thể cùng nhau đọc lại bài này, để hình dung con đường lên Tây Ninh và “châu thành Tây Ninh” lúc ấy ra sao. Bởi 95 năm đã trôi qua, “châu thành Tây Ninh”- từ một “châu thành” nhỏ (do có đặt dinh quan chánh bố đầu tỉnh nhưng vẫn chỉ là một xã) ngày ấy, nay đã trở thành đô thị loại ba- thành phố Tây Ninh. Điều đặc biệt nữa là năm 1921, con đường quốc lộ 22B vừa được chính quyền thực dân Pháp rót vốn làm xong mới khoảng 5 năm. Do vậy cảnh cũ, chuyện xưa ắt có nhiều biến đổi. Nên nhớ là trước đó đã có con đường sứ từ Gia Định qua Hóc Môn, Củ Chi tới Trảng Bàng rồi men theo phía Đông của tỉnh lên tới Tây Ninh. Đến năm 1916 mới làm xong con đường quốc lộ 1 nối từ Trảng Bàng lên Gò Dầu rồi rẽ hai nhánh, một đi Phnom Penh và một lên Tây Ninh (theo sách “Trảng Bàng phương chí” của Dương Công Đức). Cũng vì thế mới có chuyện mặt hậu chùa Phước Lưu biến thành mặt tiền, hiện nay đối diện với công viên văn hóa huyện Trảng Bàng. Vậy nên khi tác giả (Biến Ngũ Nhy) viết: “Một chập, đường quanh vào phía tay trái, thấy nhà ngói đông đảo: ấy là Trảng Bàng”; thì cũng là lúc xe bắt đầu chạy trên con đường mới có từ 5 năm trước. Hồi ấy, chắc xe chạy tuyến Sài Gòn- Tây Ninh còn phải nghỉ giữa chặng ở Trảng Bàng. Vậy mới có: “Thừa dịp xe đậu nghỉ, tôi liền đi dạo xem cuộc thế Trảng Bàng cho biết…”. Và ở đây: “Tuy là quận nhỏ mặc dầu chớ chợ Trảng cũng là thị tứ. Hai bên phố sá sạch sẽ, ở giữa có ba dãy chợ ngói liên tiếp với nhau, sắp hàng chữ nhứt. Tại đây có vài tiệm An Nam buôn bán đồ tạp hóa, có bán cả cơm Tây rất tiện cho khách du lỡ bữa. Thường nghe tiếng dưa hấu Trảng Bàng ngon nhứt nên tôi mua một trái ăn thử, thì quả thiệt dưa ở đây ngọt vô cùng”.

Như vậy là vào đầu thế kỷ XX, phố cũ Trảng Bàng đã định hình. Lúc ấy chắc chắn còn chưa có phố xá ven đường, nên từ đường lộ 1, Xuyên Á ngày nay còn dễ dàng nhìn thấy khu phố chợ với “nhà ngói đông đảo”. Chợ cũ cũng nằm giữa khu phố ấy với ba dãy chợ ngói liên tiếp nhau. Không thấy nhắc tới ngôi đền thờ đại Hương cả Đặng Văn Trước, vì có thể đền còn nhỏ, chưa được khang trang rộng lớn như bây giờ.

“Dạo chơi vừa xong, kế xe sắp chạy bóp kèn inh ỏi, ra khỏi Trảng Bàng, xe chạy lên Gò Dầu Hạ, đi ngang một cái gò rất cao lớn, kêu là núi Cục, thuộc về làng Phước An…Đường lên dốc nhiều chỗ quanh co, khi lên cao như mu rùa, khi xuống thấp như lòng chảo. Nơi gò cao, đất hoang, cỏ cháy, tre mọc từ chòm; chỗ thấp trũng, bưng bàu, ruộng nương thưa thớt, coi phong cảnh não nùng…”. Bây giờ đi đường Xuyên Á, làm sao còn nhận ra chỗ nào có gò cao như núi nữa. Chỗ gò cao nhất ấy, chỉ có thể là gò đình làng Thanh Phước ngay trước khi tới ngã ba rẽ đi Phnom Penh. Đường mới, nhà cửa chưa kịp phát triển ra nên chắc dễ dàng nhìn thấy gò đình với cả một rừng dầu cao vút, đến nay vẫn còn một số. Ngay ở ngã ba trung tâm thị trấn bây giờ, lúc ấy mới chỉ: “có vài cái nhà lá ở dựa mé đường, còn xóm làng ở ném về trong xa, có đường lộ nhỏ đi vào bên tay mặt”. Con lộ nhỏ ấy nay hẳn là con đường nhựa chạy về xã Phước Đông. “Từ đây xốc lên thì hai bên đường nhà cửa ít, mấy chỗ gò nổng, có trồng xoài và tre nhiều. Khỏi mấy xóm nhà thì tới rừng, hai bên cây mọc bi bích, đường truông vắng vẻ, chẳng thấy bóng người, dòm xung quanh chỉ thấy cây lá diềm dà trước sau một đường trắng xóa. Tới ngã ba ra Bến Kéo thì còn 8km nữa tới Tây Ninh. Tàu lục tỉnh chạy lên Tây Ninh thì đậu tại Bến Kéo chớ không vô tới chợ được vì sông nhỏ hẹp và cạn lắm…”. Xem báo tết Tây Ninh 2016, ta còn thấy một tấm ảnh con tàu chở khách tuyến Sài Gòn- Tây Ninh đầu thế kỷ 20. Ảnh do phóng viên Đặng Hoàng Thái sưu tầm. Con tàu này cũng lấy Bến Kéo làm điểm trả khách đến Tây Ninh.

Trang viết tiếp theo, tác giả mô tả về “tỉnh thành Tây Ninh”, ông đã: “dòm kiếm một cái xe kéo đặng đem hành lý tại nhà hàng (Bông-ga-lô) song kiếm hoài không có…”. Đành phải đi bằng loại xe: “dáng như xe bò mà nhỏ hơn, trên có mui như mui rùa, dưới có hai bánh, dùng một ngựa kéo kêu là xe thổ mộ…”. Riêng điều này- giao thông đô thị thì Tây Ninh có vẻ lại văn minh hơn ở Sài Gòn hay Hà Nội. Bởi phố không có cảnh người phu xe chạy lon ton phía trước gò lưng kéo cái thùng xe gắn hai bánh có ông Tây, bà đầm chễm chệ ngồi trên. Xe lưu thông trên các phố Tây Ninh đã “hiện đại hóa” hơn nhờ sức ngựa. Chùm ảnh trên báo tết Tây Ninh cũng cho thấy một bến xe ngựa vào năm 1900. Dò hỏi, nhiều bậc cao niên ở Tây Ninh cho rằng đó là bến xe chợ cũ, nằm ở góc ngã tư Lê Lợi- Trần Hưng Đạo thuộc phường 2, thành phố Tây Ninh hiện nay. Cái nhà khách (bung-ga-lô) mà tác giả tìm tới, may vẫn còn ảnh trong Bảo tàng tỉnh. Đó chỉ là ngôi nhà xây dài 5 gian, lợp 4 mái ngói móc, có hành lang bao bọc bốn bên. Vị trí của nó là ở Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng hiện nay. Năm đó, đã có nhiều du khách Tây, đầm đến Tây Ninh, nên bung-ga-lô “không có buồng trống vì có nhiều Tây du ngoạn đã mướn hết phòng”. Ở bến xe ngựa cũng có cảnh: “Nào những cô áo mớ má phấn môi son, nào thầy đồ tây, nón giày ra dáng, cũng đi xe như mình, ngồi chỏi hai chân vào be xe, khoanh tay rẽ coi mất vẻ oai nghi, kém phần lịch sự…”.

“Châu thành Tây Ninh” theo những mô tả của Biến Ngũ Nhy đầu năm 1921 là: “hẹp nhỏ, phố xá ít, sự buôn bán bơ thờ, bề thế khó tấn phát. Có một đường đông đảo hơn hết là đường xe hơi dưới Sài Gòn chạy lên, chỗ ấy là chợ Cũ, hai bên phố trệt, nhà cửa cũng tầm thường. Ra tới bờ sông thì đường đi dựa mé sông, đi trước dinh quan Chánh Bố. Vừa khỏi đó thì có cầu sắt qua chợ Mới, có hai dãy nhà lồng bằng gạch, ngó mặt qua dinh Chánh Bố, hai bên có phố trệt dựa đường, quan cảnh trống trải mà bộ thế rất cheo leo, eo hẹp. Dưới sông thì ghe thương hồ rất ít, chỉ thấy chừng mươi chiếc ghe lồng, kỳ dư thì gỗ súc nằm đầy trên bãi… Dinh quan Chánh Bố cất trên gò nổng, day mặt ra bờ sông, còn các công môn thì ở ném về phía sau. Tại đây có đủ các sở: tòa án, thương chánh, kiểm lâm, trường học, nhà thương v.v… có cả thành sơn đá, hai dãy nhà lầu, tường vôi, nóc ngói, cất ném về phía ngoài đồng, phía bên tả dinh quan Chánh Bố”.

Tất cả đoạn mô tả trên ấy chỉ là đường Trần Hưng Đạo đoạn từ ngã tư Trường Nam đến cầu Quan (khi đó còn là cầu sắt, năm 1924 mới xây cầu đúc bằng bê tông cốt thép), rồi ngược lên dốc cầu Quan. Mặt chính của “châu thành” vẫn trung thành với quan niệm về phong thủy xưa, là hướng ra sông. Kể cả thành “sơn đá” (Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh hiện nay) cũng có cổng chính hướng về phía ấy. Tấm ảnh in báo tết Đặng Hoàng Thái sưu tầm có thể hiện mặt chính của ngôi thành này. Khi ấy còn chưa có tòa nhà Hội đồng nhân dân tỉnh hiện nay, chỉ mênh mông một triền đồi nghiêng xuống mé rạch Tây Ninh. Cái cổng uy nghi độ 10 năm trước vẫn còn với cả cây đa lớn quấn rễ vào trụ cổng. Nay người ta đã xây bít lại, cổ thụ cũng đã mất đi vì phía trước đã thành phía hậu của một nhà dân.

Nhà cổ trong thành “Sơn đá” (nay là Bộ CHQS tỉnh).

Nhà cổ trong thành “Sơn đá” (nay là Bộ CHQS tỉnh).

Được biết, Biến Ngũ Nhy (1886-1973) là một nhà văn Nam bộ, người được coi là tiên phong với tiểu thuyết trinh thám. Nếu được sống lại, chắc ông không thể ngờ cái gọi là phía sau dinh Chánh Bố ấy đã trở thành đại lộ trung tâm của thành phố Tây Ninh, với công viên và những khối nhà cao đến 10 tầng. Rạch Tây Ninh đã không còn cạn với các bè gỗ súc nằm đầy trên bãi. Và hội hoa xuân hằng năm đã tấp nập các thuyền hoa từ “lục tỉnh” lên cặp ngay tại dưới cầu Quan. Vùng đất “châu thành buôn bán bơ thờ, bề thế khó tấn phát” năm xưa đã trở nên một đô thị sầm uất, hiện đại và được mở rộng ra gấp cả trăm lần.

Theo Trần Vũ (Tây Ninh Online)

Bạn có thể quan tâm