Tây Ninh đất nước con người

Tây Ninh là một tỉnh miền Đông Nam bộ, nằm phía Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh giáp với nước Campuchia. Thị xã cách trung tâm Thành phố khoảng 88km đường chim bay, 99km tính theo quốc lộ 22 và 22B.

Vào đầu thế kỷ thứ 17 mảnh đất Tây Ninh còn là vùng rừng rậm hoang vu và đầy thú dữ. Đến năm 1658, mới có những tộc người Việt đầu tiên đến đây khai hoang lập ấp và làm ăn sinh sống. Trải qua bao thăng trầm, biến đổi của lịch sử, tên gọi và địa giới cũ, Tây Ninh nhiều lần thay đổi. Từ đạo Quang Phong thuộc Phủ Gia Định (1698) thành phủ Tây Ninh của tỉnh Gia Định (1838). Đến năm 1871, mới thành tỉnh Tây Ninh và ranh giới của tỉnh (như ngày nay) được chính thức công nhận kể từ năm 1890. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ tháng 8 – 1945 đến năm 1951 Tây Ninh là một tỉnh riêng đến tháng 5 – 1951 ta xác nhập hai tỉnh Tây Ninh và tỉnh Gia Định thành tỉnh Gia Ninh. Cuối năm 1954 lại tách ra làm hai, Tây Ninh trở lại ranh giới cũ. Thời ngụy quyền thuộc Mỹ, chúng đã cắt quận Phú Đức (Trảng Bàng) nhập vào tỉnh Hậu Nghĩa. Lúc chuẩn bị cho tổng tiến công mùa xuân năm 1968 huyện Trảng Bàng được tách ra cùng một số huyện ven thành phố thành lập phân khu 1. Năm 1972, huyện Trảng Bàng được trả trở về cho Tây Ninh. Ngày nay ranh giới hoàn chỉnh của tỉnh Tây Ninh có: phía Bắc và phía Tây giáp nước Campuchia, chiều dài biên giới là 232km, phía Nam giáp tỉnh Long An 13,5km và Thành phố Hồ Chí Minh 32km, phía Đông tỉnh giáp tỉnh Sông Bé 123km đường ranh giới tỉnh được lấy dọc theo sông Sài Gòn.

Một góc xóm chày trên rạch Tây NinhẢnh: Một góc xóm chày trên rạch Tây Ninh

Diện tích tự nhiên của toàn tỉnh là 4030km2. Địa hình tương đối bằng phẳng ở diện rộng, có xu hướng nghiêng dần từ Bắc xuống Nam. Dạng địa hình cao đồi thoải, lượn sóng có độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 20m – 60m, chủ yếu nằm về phía Bắc của tỉnh. Dạng trung bình có độ cao từ 10m – 20m, chạy dọc giữa tỉnh từ Thị xã xuống Gò Dầu, Trảng Bàng. Dạng địa hình thấp, bằng ven sông có độ cao trên 5m, là vùng đất ven sông , sông Sài Gòn và các rạch phụ lưu của 2 sông này. Trên dạng địa hình tổng thể, có độ cao không quá 60m, nổi lên ngọn núi Bà Đen cao 986m, đây là một ngọn núi cao nhất Nam bộ, giống như một chiếc nón lá khổng lồ úp giữa những cánh đồng bằng phẳng, những đồng lúa, đồng màu bạc ngàn xanh tốt. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, khu vực núi Bà Đen là một địa điểm tốt, để cho các nhóm Đảng hoạt động khi bị lộ, bị kẻ thù khủng bố, tạm rút về đây ẩn náu chờ thời cơ. Đế quốc Mỹ sau này cũng lợi dụng đỉnh núi cao để đặt trạm viễn thông nhằm khống chế cửa ngõ phía Tây Bắc Sài Gòn và cả miền Đông và Campuchia. Nơi đây đã diễn ra những trận chiến đấu ác liệt giữa ta và địch để giành giật từng triền núi, hang đá.

Khí hậu Tây Ninh mang những nét điển hình của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa quanh năm nóng ẩm. Nhiệt độ trung bình cả năm là 27o4, tháng giêng có nhiệt độ thấp là 17o6, nhiệt độ cao nhất là vào tháng 4 là 37o. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm ít, sự chênh lệch giữa ngày và đêm cao: Vào buổi sáng là 24o4, trưa là 32o, chiều là 30o và đêm là 27o. Đây là điều kiện thuận lợi, để tạo ra sự tích lũy chất tinh bột cho các loại cây trồng, như mía, lúa, mì, đậu phộng, bắp … Lượng mưa trung bình hàng năm ở Tây Ninh là 1598mm. Độ ẩm trong không khí trung bình là 79%. Lượng bốc hơi cả năm trung bình 1.434mm, tổng số giờ nắng trong năm 2728 giờ. Khí hậu thời tiết trong năm được chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 – tháng 11. Lượng mưa chủ yếu tập trung vào mùa này (chiếm trên 90% lượng mưa cả năm, với khoảng 104 ngày mưa). Mùa khô từ tháng 12 – tháng 4, lượng mưa rất ít (khoảng 12 ngày mưa, với 80mm – 100mm).

Được thiên nhiên nhiệt đới ưu đãi và các sinh vật khác phát sinh, phát triển nhanh, mạnh, đa dạng và phong phú. Rừng có nhiều loại gỗ quý như: Giáng hương, Cẩm lai, Câm xe, Trai, Dầu, Chò, Sao, Gõ. Chẳng những có nhiều chủng loại mà còn giàu về sản lượng, có một nơi đạt từ 100 – 200m3 gỗ tròn trên 1ha. Rừng còn là một vườn cây thuốc nam quý giá với nhiều loại thông dụng như hà thủ ô, mã tiền, sa nhân, ba kích, ké đầu ngựa, bạch đậu khấu, … được dùng rộng rãi trong việc trị bệnh và bồi dưỡng sức khỏe cho nhân dân. Rừng có hàng chục loại cây ăn quả như: trường, mít, gùi, thị, … Hàng trăm loại cây có thể dùng làm rau ăn. Đi đôi với tài nguyên về thực vật, nguồn tài nguyên động vật ở Tây Ninh cũng khá phong phú bao gồm nhiều loại như: cọp, voi, heo rừng, bò rừng, trâu rừng, khỉ, nhím, cheo, trăn, … cho đến chim muôn. Nhiều loại bò sát cũng được sát minh có thể dùng làm dược liệu rất tốt như các loại rắn, thằn lằn, tắc kè, kỳ đà, ở dưới lòng đất còn có nhiều loại khoáng sản quý. Dưới sông, suối và những vùng đất thấp bị ngập nước, có các loại cá sinh sôi nẩy nở quanh năm. Cây cối tươi tốt, mùa nào thức ấy. Đây chính là kho thực phẩm dự trữ dồi dào cho nhân dân ta từ xa xưa, cho bộ đội và nhân dân những năm kháng chiến chống giặc. Đây cũng chính là tài nguyên kích thích lòng tham của bọn tư sản nhảy vào khai thác để làm giàu. Trong chiến tranh, Mỹ – Ngụy đã dùng bom đạn và chất độc hóa học để phá rừng làm cho nguồn tài nguyên này bị phá hủy nghiêm trọng. Ngày nay Tây Ninh chủ trương trồng cây trả lại màu xanh cho rừng. Đồng thời có những chính sách, pháp lệnh cụ thể về việc bảo vệ rừng, bảo vệ thú rừng, sử dụng gây nuôi và khai thác một cách hợp lý, nhằm đáp ứng được nhu cầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đời sống nhân dân.

Tây Ninh có 2 con sông lớn chảy qua ở phía Tây tỉnh là sông Vàm Cỏ Đông dài 220km bắt nguồn từ Campuchua băng qua những cánh rừng biên giới chảy vào đất Tây Ninh (đoạn dài 180km) xuống Long An và đổ ra biển Đông. Dòng sông này rất tiện lợi giao thông đường thủy, giặc lợi dụng đánh ta phía Tây và Campuchia, dòng sông đã từng làm mồ chôn quân cướp nước, nó là một chứng nhân của lịch sử, ghi dấu bao chiến công oai hùng của quân và dân ta. Về phía Đông có sông Sài Gòn bắt nguồn từ Campuchia dài 250km chảy qua Tây Ninh theo hướng Bắc Nam (đoạn dài 123km) lòng sông không sâu, rộng nhưng ghe thuyền có thể đi lại dễ dàng. Hiện nay nó là nguồn cung cấp nước dồi dào cho , một công trình thủy lợi lớn nhất của cả nước.

Tây Ninh là cửa ngõ phía Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh có đường biên giới giáp Campuchia là 232km. Đây là một vị trí có ý nghĩa chiến lược quan trọng về các mặt: chính trị, kinh tế và quốc phòng. Địa thế núi rừng hiểm trở của Tây Ninh đã trở thành những căn cứ kháng chiến chống ngoại xâm của ông cha ta, ngay từ buổi đầu khi mới đặt chân đến vùng đất này, cho đến lúc có Đảng lãnh đạo những chiến khu An Cơ, Căn cứ C1000, Căn cứ 105, Căn cứ địa Dương Minh Châu (từ 1952 đến 1975), chiến khu Bời Lời và còn biết bao địa danh khác mãi mãi đi vào lịch sử. Đây là niềm tự hào của quân và dân Tây Ninh trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà trực tiếp là Tỉnh Đảng bộ Tây Ninh. Rừng Tây Ninh còn là căn cứ cho sự phối hợp chiến đấu giữa những người yêu nước Việt Nam và Campuchia cùng chung sức chống quân xâm lược.

Với điều kiện tự nhiên về địa hình, đất đai, khí hậu, sông ngòi, và các nguồn tài nguyên khác của tỉnh, Tây Ninh có một tiềm năng to lớn về phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp.

Trải qua hàng mấy thế kỷ từ khi mới khai phá lập nghiệp, người Tây Ninh chủ yếu sống vào nghề nông và nghề rừng. Kho tài nguyên thì dồi dào mà cuộc sống của người dân thì khổ cực trăm bề, bởi vì đất nước còn đang lệ thuộc ách thống trị của bọn phong kiến, thực dân, đế quốc.

Dưới thời Pháp thuộc, nông dân là những người trực tiếp khai vỡ đất đai nhưng không được làm chủ mảnh đất của mình. Đất phù sa mới nhiều phèn khó canh tác, được một số ruộng tốt điều tập trung trong tay bọn địa chủ và bọn Quan lại địa phương. Sản xuất manh múm cá thể, kỹ thuật canh tác lạc hậu, gần như phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên. Diện tích canh tác không được mở rộng, năng suất cây trồng không cao, làm lụng vất vả quanh năm nhưng không đủ gạo ăn.

Đất Tây Ninh phần lớn là đất xám trên phù sa cổ, loại đất này thích hợp với những loại cây ngắn ngày như mía, đậu phộng, mì, thuốc lá, đậu phộng, … Bọn tư sản cũng đã đầu tư vào đây để khai thác. Chúng đã xây dựng 1 nhà máy đường ở Thanh Điền với trên 500 công nhân (kể cả công nhân trồng mía). Về sau bọn chủ Pháp cho mở thêm diện tích trồng mía và trang bị máy ép đường, loại có công 250 tấn mía cây/ngày để tăng cường bóc lột sức lao động của công nhân. Bên cạnh đó, chúng còn chiếm dụng đất đai của nhân dân để làm đồn điền cao su, bóc lột nguồn công nhân rẻ mạt tại chỗ, trong thời gian này, Công ty cao su Đông Dương (SIBH) của Pháp đã xây dựng được một số đồn điền lớn ở Bến Củi, Vên Vên … Đây là loại đồn điền khá quy mô thu hút nhiều công nhân, vì nó có cả nhà máy chế luyện cao su. Ngoài ra còn có nhiều Sở cao su của bọn địa chủ tư sản ngoại kiều khác như ở Cầu Khởi, Ác nô, Sở Ôcônen, Sở Syna, Sở Phờ-răng-sy-ny, Sở Sốc Văng … Một số địa chủ người Việt có diện tích khoảng 10 đến 15 ha ở rải rác khác tỉnh và dự kiến còn mở nhiều đồn điền … Trong các đồn điền bọn địa chủ đã bóc lột sức lao động của công nhân một cách dã man, mỗi ngày họ phải làm việc từ 10 đến 14 tiếng đồng hồ lại còn phải gánh chịu bao nhiêu roi vọt trút lên đầu.

Nguồn lợi lớn nhất mà thực dân Pháp thu được trên mảnh đất 4000 ha ở Tây Ninh là lâm sản. Rừng chiếm ½ diện tích đất đai trong toàn tỉnh. Sản lượng gỗ cao, lại dễ khai thác vì địa hình bằng phẳng, rất thuận lợi cho việc vận chuyển. Sau gỗ còn có nhiều lâm sản phụ quan trọng khác như mây, tre, lá, củi, dầu trong, mũ chai và rất nhiều thịt thú rừng. Khi mới chiếm Tây Ninh thực dân Pháp đã áp dụng ngay chính sách khoanh rừng, tổ chức kiểm soát chặt chẽ, bán gỗ thu thuế lâm sản, chúng đã thành lập ở Tây Ninh một Sở Kiểm lâm gồm có 7 quận và nhiều đồn. Ở mỗi quận có một tên sếp và một số viên chức cùng với một đội lính trông coi những người làm rừng sai với quy chế do chúng đặt ra.

Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp gần như địch không quan tâm chỉ ở thị xã có 1 nhà máy đèn, 1 nhà máy nước với qui mô nhỏ với khoảng vài chục công nhân. Trong toàn tỉnh có hơn 10 nhà máy xay xát gạo, công suất từ 5 đến 10 tấn lúa trên ngày và một xí nghiệp thủ công khác như xưởng giấy, lò gạch, che ép đường, bọng ép dầu đậu phộng, lò rèn, lò than. Tất cả các cơ sở sản xuất trên đều thủ thuộc tiểu chủ người Việt và Hoa kiều. Các tiểu chủ này phải nộp thuế khá cao cho bọn thống trị, nên họ đã bốc lột người làm công không kém gì Pháp, thậm chí có nơi còn nặng nề hơn, bởi vì họ bóc lột theo cung cách của thực dân kết hợp với kiểu bóc lột của địa chủ, phong kiến. Ngoài những thủ đoạn bóc lột về kinh tế, thực dân Pháp còn áp dụng một chế độ thuế khóa hà khắc đối với nhân dân ta. Chúng đặt ra mọi thứ thuế như điền thổ, nhà cửa, trâu bò, patăng, môn bài, …và dã man nhất là thuế thân. Tình cảnh này đã đưa cuộc sống của người dân Tây Ninh ngày càng đi đến chỗ cùng cực bế tắc.

Thời Pháp thuộc là như thế, đến thời Mỹ – Ngụy nhằm mục đích biến Tây Ninh thành một tiền đồn vững chắc để bảo vệ cửa ngõ phía Tây Bắc Sài Gòn, đế quốc Mỹ đã đổ vào đây rất nhiều bơm đạn, chất độc hóa học và các phương tiện chiến tranh khác hình thành nên một hệ thống đồn bốt và căn cứ quân sự dày đặc. Vì thế, diện tích đất đai nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, ở những vùng xảy ra chiến sự nhân dân không thể sản xuất được, phải bỏ ruộng, bỏ vườn chạy vào thị trấn thị xã. Điều này đã làm cho nền kinh tế nông nghiệp bị đình đốn, không phát triển được. Bom Napan và chất độc hóa học của Mỹ đã hủy diệt rừng một cách nghiêm trọng, làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên này ngày thêm kiệt huệ. Việt khai thác rừng và các nguồn lâm sản phụ khác đều tập trung trong tay bọn cai thầu và bọn tướng tá ngụy với ý đồ khai hoang phá rừng, phá căn cứ cách mạng. Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên cơ sở những di sản của thực dân Pháp để lại, Mỹ – Ngụy có trang bị thêm một ít máy móc và thiết bị không đáng kể. Hàng hóa ế thừa của phe tư bản chủ nghĩa tràn ngập thị trường, đã bóp chết những ngành nghề truyền thống ở địa phương. Nền kinh tế Tây Ninh vốn đã nghèo nàn lại bị chiến tranh tàn phá liên miên, đời sống của nhân dân trong vùng tạm chiến vô cùng khó khăn. Còn ở vùng tự do (địch kêu là vùng oanh tự do), dưới sự lãnh đạo của chính quyền cách mạng, nhân dân ta vượt mọi khó khăn, về thiên nhiên địch họa vừa sản xuất, vừa chiến đấu, nhằm đáp ứng được phần nào yêu cầu của công cuộc kháng chiến và đời sống.

Do điều kiện địa hình tương đối bằng phẳng, hệ thống đường giao thông ở Tây Ninh khá thuận tiện. Về đường bộ: có quốc lộ 22 và 22B chạy suốt từ Thành phố Sài Gòn (phía Nam) lên bắc tỉnh, qua Campuchia.
Tỉnh lộ 13 xuyên suốt từ đông sang tây: chạy từ sông Sài Gòn qua thị xã Tây Ninh đi Bến Sỏi và đến biên giới Việt Nam – Campuchia. Tỉnh lộ 4 chạy lên phía Bắc từ thị xã qua Kheđon, Đồng Pan đi Kà Tum và đến biên giới Việt Nam – Campuchia Bắc Sông Bé. Xuyên giữa rừng nối liền lộ 4 tại Đồng Pan, với quốc lộ 22B, địch làm đường (Trần Lệ Xuân) để khai thác gỗ và tiếp cận căn cứ ta. Tỉnh lộ 26 xẻ giữa tỉnh chạy xuống phía Nam băng qua các vùng nông thôn trù phú thuộc các huyện Dương Minh Châu, Gò Dầu, Trảng Bàng nối với lộ 22 cửa ngõ vào Sài Gòn. Nối liền các trục lộ chính là một mạng lưới đường nông thôn chằng chịt, phục vụ tốt cho việc đi lại của nhân dân và việc cận chuyển hàng hóa bằng các loại xe. Về đường thủy có 2 sông Sài Gòn và Vàm Cỏ Đông, nhiều con rạch nhỏ thuyền ghe có thể lưu thông được quanh năm như rạch sóc Ôm, rạch Tây Ninh, rạch Trảng Bàng, suối Suối Đôi … Trong thời gian chiến tranh thực dân Pháp cũng như đế quốc Mỹ đã sử dụng hệ thống đường giao thông này chủ yếu để phục vụ cho mục đích quân sụ, nhằm thực hiện các cuộc hành quân càn quét vào các vùng tự do của ta.

Dân số Tây Ninh thời Pháp thuộc năm 1921 có khoảng 200.000 người, năm 1942: 260.000 người, thời Mỹ Ngụy năm 1969: 335.301 người, năm 1972: 392.840 người. Sau giải phóng 30/4/1975 có khoảng 578.000 người. Theo tổng điều tra dân số 1978 có 701.000 người. Mật độ dân số trung bình trong toàn tỉnh là 174 người/km2, nơi có mật độ cao nhất là huyện Hòa Thành: 900 người/km2, thấp nhất là huyện Tân Biên 42 người/km2.
Từ khi vùng rừng núi hoang vu trở thành nơi cư trú của con người cho đến nay, ở Tây Ninh có 3 dân tộc anh em cùng sống đoàn kết gắn bó bên nhau, đó là người Việt, Khơme và Chàm. Người Việt sống ở Tây Ninh là những người có nguồn gốc từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và một số tỉnh miền Bắc vào cửa Cần Giờ theo đường sông lên Tây Ninh buôn bán, trao đổi hàng hóa với người địa phương rồi dần dần trụ lại đây làm ăn sinh sống. Dân tộc Việt phát triển nhanh, ngày càng đông, yêu cầu mở rộng địa bàn sản xuất ngày càng trở nên cấp bách, do đó họ tiến dần lên vùng Trảng Bàng, Gò Dầu và tận chân núi Chiên (Bà Đen) để khẩn đất lập làng, hình thành nên những vùng cư dân đầu tiên của người Việt ở Tây Ninh. Trước và qua 2 cuộc kháng chiến, dân tộc Việt luôn luôn thể hiện được truyền thống yêu nước chống ngoại xâm oanh liệt của mình, biết đoàn kết với các dân tộc anh em trong công cuộc giải phóng đất nước. Người Khơme sống quây quần lại với nhau thành từng phum, sóc. Sống chủ yếu dựa vào hái lượm, đốt nương, tỉa rẫy. Vào thời Pháp thuộc họp tập trung lạo trong 4 tổng (Chơn Bà Đen, Tabenduyn, Băng-chơ-rum, Khăn Xuyên) gồm 15 làng. Qua 2 cuộc kháng chiến do chiến tranh tàn phá ác liệt, đồng bào Khơme phải di chuyển tứ tán đi nhiều nơi, không còn sống theo từng làng riêng biệt nữa mà chung sống với người Việt, phần lớn là ở những vùng rừng và nông thôn hẻo lánh. Dân số Khơme phát triển chậm. Dân tộc Chàm (1692) đã cùng người Việt từ miền Trung bộ tiến lần về phía Nam, về sau định cư lại ở 2 nơi là Châu Đốc và Tây Ninh. Ở Tây Ninh người Chàm quy tụ lại thành 2 xóm: xóm Chàm Đông Tác (nay thuộc ấp Thái Vĩnh Đông – phường 1 thị xã Tây Ninh) và xóm Chàm Tạo Tác (xã Tân Hưng, huyện Tân Biên). Ngoài 3 dân tộc đã nêu trên, còn có một số dân tộc ít nười khác như dân tộc Tà Mun, Mường, Thổ, Êđê và kiều dân Ấn độ, Pháp, Thái Lan, Lào, Tiệp Khắc, Nhật và người Việt gốc Hoa.

Đồng bào các dân tộc với phong cách sống hào hùng của cha ông đã để ra bao công sức và xương máu để khai lập và giữ gìn mảnh đất Tây Ninh từ khi mới thành lập cho đến nay. Dân tộc kinh sống chan hòa đoàn kết với các dân tộc anh em trong quá trình sản xuất, chống thiên nhiên thú dữ và giặc ngoại xâm, chống mọi chính sách chia rẽ dân tộc của kẻ thù.

Đại bộ phận dân số Tây Ninh là nông dân lao động cần cù và sáng tạo. Cách đây khoảng 300 năm về trước, Tây Ninh còn là vùng rừng rậm hoang vu vắng bóng người, thuở ấy ông cha ta đã phải đạp rừng xông tới tìm đường đi mở đất, quây quần bên nhau để chống thú dữ, nương tựa vào nhau trong cảnh sống heo hút vất vả. Bằng những công cụ lao động thô sơ trong buổi ban đầu, nhân dân đã vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ từng bước tiến lên cải tạo thiên nhiên. Khi thực dân Pháp nhảy vào xâm chiếm Tây Ninh, tất cả những vùng đất, những mảnh ruộng tốt đã bị chúng chiếm đoạt.

Vào đầu thế kỷ 20, trong chính sách khai thác thuộc địa lần thứ 2, thực dân Pháp cho xây dựng ở Tây Ninh một số đồn điền cao su, một vài cơ sở sản xuất, chế luyện cao su, xưởng chế biến mía đường, nhà máy đèn, nhà máy nước … Ruộng đất bị chiếm đoạt, nông dân không có đất để sản xuất bắt buộc phải bán sức lao động của mình cho bọn chủ ở các đồn điền và nhà máy để kiếm sống. Từ đó giai cấp công nhân được hình thành, tuy số lượng không đông, tính chất không thuần nhất (bán công, bán nông), điều kiện làm việc không hiện đại nên tinh thần tập thể và ý thức tổ chức kỷ luật chưa chặt chẽ, nhưng họ lại bị áp bức bóc lột quá nặng nề, điều nàu đã làm cho mâu thuẫn giữa họ với bọn tư bản thống trị, ngày càng trở nên gay gắt. Xuất thân từ giai cấp nông dân, sẵn có lòng căm thù giặc sâu sắc của người dân nô lệ bị cướp đất và sẵn có truyền thống yêu nước của dân tộc lại được sự cổ vũ mạnh mẽ của phong trào công nhân trong cả nước, giai cấp công nhân ở Tây Ninh đã sớm thấy được vai trò và trách nhiệm của mình trong cuộc cách mạng, nên họ đã đoàn kết chặt chẽ với giai cấp nông dân, tiến hành cách mạng lật đổ giai cấp thống trị.

Giai cấp tư sản và địa chủ ở Tây Ninh quá nhỏ bé, chiếm một tỷ lệ không đáng kể so với dân số toàn tỉnh, nhưng nó lại là giai cấp có thế lực mạnh nhất trong xã hội đương thời được bọn thống trị nuôi dưỡng để làm tay sai cho chúng.

Hoàn cảnh xã hội phức tạp, đời sống kinh tế quá khó khăn, thiên nhiên thú dữ và giặc cướp hoành hành, chiến tranh xảy ra liên miên,sinh mạng của con người bị nhiều mối đe dọa. Vốn hiểu biết của con người về thiên nhiên và xã hội còn nhiều hạn chế, con người còn tin sự che chở cứu vớt, của trời Phật, lấy đó làm chỗ dựa về tinh thần. Đó là điều kiện tốt để cho ba tôn giáo lớn lần lượt ra đời và tồn tại ở Tây Ninh cho đến ngày nay.

Đạo Phật xuất hiện rất sớm, gắn liền với quá trình khai vỡ đất đai và bảo vệ cuộc sống của nhân dân Tây Ninh nó có phần về đạo nghĩa làm người phù hợp với đạo Phật. Cảnh non thâm cùng cốc của núi Bà Đen thích hợp với thầy tu lập chùa sùng đạo. Nhiều vị công thần sau khi dẹp giặc xong lại lui về lập chùa tu niệm. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ có một số chùa Phật làm nơi ẩn náo tốt cho những người yêu nước, các cán bộ đảng viên của ta khi bị địch truy lùng và bắt bớ. Đạo Phật rất gần gũi với nhân dân, liên quan bản tính nhân hậu, hiếu thảo, hào hiệp, nhân nghĩa, trí dũng, làm lành lánh dữ, diệt tà cứu dân, vì thế gần như người Việt Nam nào cũng thờ cúng tổ tiên, ông bà trong những ngày rằm lớn ở chùa đã trở thành tập quán của mỗi người, mặc dù họ không phải là tăng ni phật tử.

Đạo Thiên chúa xuất hiện ở Tây Ninh từ năm 1860. Khi đó có một số linh mục bị triều đình Huế truy nã, trốn vào Nam lánh nạn. Số linh mục này đã tìm đến vùng đất tha la trú chân, quy tập một số người lập ấp làm ăn ở Lò Mo và Trường Đà, lập nên họ đạo Tha La.

Đến khi Pháp xâm chiếm Sài Gòn, họ đạo Tha La phát triển mạnh, cử linh mục đi lập họ đạo Tây Ninh ở Thị xã (1878) và mở họ đạo ở nhiều nơi trong tỉnh.

Đạo Cao Đài là một đạo mới ra đời, nhưng có nhiều nét nổi bật về vấn đề tôn giáo ở Tây Ninh, coi Tây Ninh là trung tâm của đạo Cao Đài giáo. Đối với các tầng lớp chức sắc cao cấp, trừ một số ít có tinh thần dân tộc, có lòng yêu nước, còn đại đa số mượn danh nghĩa đạo để hoạt động nhằm mục đích chính trị riêng, họ đã tiếp tay với đế quốc chống lại cách mạng, đi ngược lại quyền lợi của nhân dân và dân tộc. Quần chúng tín đồ tuy có bị họ lợi dụng để làm tay sai cho giặc, nhưng tuyệt đại tín đồ là nông dân cơ bản, có tinh thần yêu nước, có căm thù bọn bóc lột khi họ được hiểu lẽ phải, sự thật nhận ra kẻ thù cướp nước và bè lũ bán nước nên đồng bào tín đồ sẵn sàng đi theo cách mạng cùng toàn dân đứng lên đánh bọn đế quốc và tay sai.

Thiên nhiên Tây Ninh:

Tỉnh Tây Ninh và các tình miền Đông Nam bộ có cấu trúc địa chất là một miền uốn nếp chuyển tiếp giữa địa khối Đà Lạt và miền sụt võng của châu thổ sông Cửu Long. Sự hình thành và phát triển địa chất của khu vực do các hoạt động tân kiến tạo võ trái đất kéo dài hàng trăm triệu năm, ở khu vực này bị nứt nẻ nhiều nơi. Đặc trưng của các chuyển động này là không gây nên sự uốn nếp như các thời kỳ trước mà chỉ tạo ra sự nứt gãy, sụt lún. Hậu quả của các chuyển động là hai khối nâng lên đến 100m được hình thành bời hai khối nâng: Ở Việt Nam có khối nâng Nam Trung bộ, Ở Campuchia có khối nâng Đông Campuchia. Giữa hai khối nâng này là khối sụt gồm những trũng rộng lớn kiểu vịnh với núi sót như hàng loạt đảo nhỏ. Cùng với sự nâng, sụt, đã xảy ra sự phun trào Bazan qua các khe nứt kiến tạo hoặc phụt nổ lẻ tẻ. Dung nham Bazan này phủ trùm lên các Aluvi cổ đã được nâng cao ở phía bắc và đông bắc Nam bộ, dưới lớp Bazan dày 100m là một lớp phù sa cổ, dưới đó cho đến độ sâu 200m là đá gốc sa-diệp thạch Trung sinh và Cổ sinh thượng, một vài nơi bị xé đứt bởi các xâm nhập granit, ở các núi cao trong vùng: Bà Đen (986m) ở Tây Ninh; Bà Rá (736m) ở phía Bắc Phú Riềng; Chứa Chan (558m) ở bên phải quốc lộ 1 gần Phan Thiết.

Tây Ninh nằm giữa cao nguyên phía bắc và châu thổ thấp phía Nam, nằm trên lớp nền đá gốc sa-diệp thạch Trung sinh là lớp phù sa cổ chiếm một diện tích rất lớn rộng ra và cả Đông Nam bộ và được phân bố xa về phía Tây, đến tận Kampông Chàm và Kra Tiê (Campuchia). Các phù sa mới ở phía Đông lại phủ lên các phù sa cổ ở những nơi mà phù xa cổ này bị hạ thấp xuống dưới mực nước biển. Vì vậy Tây Ninh vừa mang sắc thái của một Cao nguyên, vừa có dáng dấp của một đồng bằng, xen kẽ giữa những cánh đồng rộng lớn là những khu rừng núi điệp trùng. Xa bờ biển phía đông Tây Ninh nằm sâu trong đất liền (cách bờ biển khoảng 100km). Những cơn bão lớn, nhỏ thường tan đi khi tiến sâu vào đất liền, nên Tây Ninh thiệt hại về lũ lụt thường có lúc xẩy ra nhưng thiệt hại về bão tố hầu như không đáng kể.

Trên những địa bàn có lịch sử thành tạo địa chất khác nhau, địa hình, khí hậu, thuỷ văn khác nhau đã hình thành 5 nhóm đất có đặc trưng riêng biệt: Đất xám, đất phèn, đất đỏ vàng, đất phù xa, đất than bùn. Trong đó đất xám (phù xa cổ) chiếm đại bộ phận. Tây Ninh có tiềm năng dồi dào về đất đai với diện tích tự nhiên hơn 400 ngàn ha, trong đó 96,4% thuận lợi đối với các cây trồng chính. Quỹ đất chứa đựng nhiều tiềm năng đáng kể cho khai thác, sử dụng có hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất nông-lâm nghiệp và các ngành kinh tế khác.

Khoáng sản của Tây Ninh, chủ yếu thuộc nhóm khoáng sản phi kim loại như: than bùn, đá vôi, cuội, sỏi, cát, sét và đá xây dựng Than bùn có trữ lượng 16 triệu tấn, phân bố rải rác dọc theo sông Vàm Cỏ Đông, chất lượng rất tốt, dùng để chế biến phân vi sinh phục vụ sản xuất nông nghiệp để cải tạo đất. Đá vôi có trữ lượng khoảng 100 triệu tấn. Cuội, sỏi, cát có trữ lượng khoảng 10 triệu m3. Đất sét để sản xuất gạch ngói có trữ lượng khoảng 16 triệu m3, được phân bố nhiều nơi trong tỉnh. Đá laterit có trữ lượng khoảng 4 triệu m3 và đá xây dựng các loại có trữ lượng vào khoảng 1300- 1400 triệu m3, phân bố chủ yếu ở núi Phụng, núi Bà huyện Hoà Thành.

Khí hậu Tây Ninh tương đối ôn hoà, chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô. Mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau và tương phản rất rõ với mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11). Chế độ bức xạ dồi dào, nhiệt độ cao và ổn định. Mặt khác Tây Ninh nằm sâu trong lục địa, ít chịu ảnh hưởng của bão và những yếu tố bất lợi khác. Nhiệt độ trung bình năm của Tây Ninh là 27,4 độC, lượng ánh sáng quanh năm dồi dào.

Mùa mưa ở Tây Ninh trùng với gió mùa Tây Nam, mùa khô trùng với gió mùa Đông Bắc. Tuỳ theo sự hoạt động của các khối không khí mà hai mùa trên cũng biến đổi theo từng năm, có năm mùa mưa hoặc mùa khô đến sớm và có năm đến muộn, lượng mưa hàng năm trong tỉnh từ 1.400- 2.000mm. Mưa phân bố không đồng đều.

Tây Ninh có 2 con sông lớn (Sài Gòn và Vàm Cỏ Đông) chảy dọc theo ranh giới phía Đông và men theo ranh giới phía Tây của tỉnh với hệ thống sông rạch phân bố tương đối đồng đều tạo thành nguồn nước mạch và nguồn nước ngầm khá dồi dào suốt quanh năm. Đặc biệt hồ Dầu Tiếng là công trình đại thuỷ nông lớn nhất nước, có trữ lượng 1,5 tỷ m3 nước, có khả năng tưới cho 172.000 ha lúa và hoa màu của Tây Ninh và các khu vực lân cận. Với diện tích mặt hồ 27000ha và hệ thống kênh các cấp dài khoảng 2000km, mặt nước ngầm được nâng lên hơn trước từ 3-4m. Khí hậu các khu vực quanh hồ dịu mát hơn, đỡ oi bức hơn vào mùa khô. Hình tượng Tây Ninh với Hồ Dầu Tiếng như nàng tiên đẹp đội lọ nước thần tưới cho vùng đất khô cằn biến thành vùng đất tươi tốt, cay cối bốn mùa đâm bông, kết trái.

Động vật ở Tây Ninh cũng vô cùng phong phú. Ước tính có 12 loài thú, hàng chục loài chim, 10 loài bò sát, một loài lưỡng thê, hai loài cá. Dặt biệt “mèo núi” là loại động vật quí hiếm, trước đây có mặt tại Tây Ninh nhưng hiện nay không tìm thấy. Trong rừng thưa ẩm, cây lá rộng có nhiều loài động vật chung sống, từ các loài leo trèo như: nhím, sóc, cheo…bên dưới là các loài bò sát như: trăn gấm, hổ chúa, mai gầm…; các động vật ăn cỏ như: nai, bò rừng,trâu rừng …; loài ăn thịt trước đây có hổ, báo … Dưới đất là cả một thế giới côn trùng phong phú như kiến, mối …; Giới chim muôn có nhiều loài độc đáo như cao cát, gà lôi … Dưới các hồ ao, sông, suối … nguồn cá nước ngọt cũng vô cùng phong phú như: lốc, trê, rô, bông lau, cá bống … thậm chí có cả cá sấu.

Vào thế kỷ XVII, đất Tây Ninh còn được bao phủ bởi rừng già mênh mông xen kẽ trảng, đầm lầy hoang vu với nhiều loại thú dữ, rắn độc. Dưới bàn tay lao động động của người đi tiên phong mở đất, lập làng, sinh cảnh thực vật tự nhiên dần dần biến đổi, thích nghi với điều kiện tự nhiên. Tuy là một tỉnh có thế mạnh về rừng, diện tích rừng trước đây khá nhiều nhưng do hậu quả của chiến tranh, việc khai thác bừa bãi nên hiện nay nó đã suy giảm nghiêm trọng.

Rừng Tây Ninh đại bộ phận là rừng thứ sinh, thuộc kiểu rừng thưa, cây lá rộng, chủ yếu là cây họ dầu, họ bàng, gỗ quý còn lại rất ít, ngoài ra cần có rừng hỗn giao tre nứa và cây gỗ, trảng cây bụi … Gắn với chương trình 327 đã có bước chuyển đổi mạnh mẽ từ khai thác gỗ, lâm sản chuyển sang bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc là chủ yếu. Trong 3 năm 1993-1995 Tây Ninh đã hình thành 15 dự án Lâm-Nông nghiệp, định canh, định cư với tổng diện tích quy hoạch là 112.338 ha, trong đó diện tích rừng là 34.936 ha, bao gồm các loại rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất. Các khu vực tập trung rừng là phạm vi Hồ Dầu Tiếng thuộc huyện Tân Châu, Lò Gò, Xa Mát, Chàng Riệc thuộc huyện Tân Biên chiếm 96,1%. Đến năm 1996 toàn tỉnh chỉ có 38.841 ha đất có rừng, độ che phủ rừng xấp xỉ 10%.
Trước hết cần bảo vệ vốn rừng hiện có và tái tạo lại rừng trên các vùng đầu nguồn của khu vực hồ nước Dầu Tiếng để điều hòa nguồn nước, chống xói mòn đất và phủ lớp lòng hồ, khôi phục lại cảnh quan tự nhiên nhiệt đới, xây dựng rừng trồng gỗ lớn. Bảo vệ, xây dựng hệ sinh thái cây trồng đa dạng phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh.

(Cập nhật ngày 25/05/2012)

Theo Bảo tàng tỉnh Tây Ninh

Bạn có thể quan tâm