Quê ta núi Điện, sông Vàm

Nếu như thế hệ tham gia kháng chiến thường tự hào nói về miền đất Tây Ninh quê mình là quê hương trung dũng kiên cường thì các thế hệ trước đó cũng đã gọi Tây Ninh là miền quê núi Điện, sông Vàm đầy tình thương mến.

Hồ trên núi Bà

Hồ trên núi Bà

Đây nhé! Nhà thơ Hưng Huyền trong một bài thơ thay lời tựa cho một tập thơ của bạn, đã viết: “Yêu thắng cảnh, yêu danh lam/ Yêu hòn núi Điện, yêu Vàm Cỏ Đông…”. Còn nữ sĩ Phan Phụng Văn lại có những câu: “Nẻo thông thương Bến Sỏi nối Tầm Long/ Êm êm nước chảy xuôi dòng/ Trầm buồn bằng một con sông lặng tờ…”. Rồi: “Núi Điện Bà dưới ánh tà huy/ Là đây hùng vĩ uy nghi…”.

Ta sẽ còn nhận ra rằng, thơ xưa Tây Ninh viết về núi Điện (Bà Đen) nhiều hơn. Đơn giản chỉ vì một lẽ, núi thì gần mà sông Vàm thì xa. Đi hướng Châu Thành tới bến Tầm Long cũng hơn 12 cây số; còn đi nẻo Thanh Điền ra bến Gò Chai cũng phải ngót 10 cây. Thời ấy suốt dòng sông chảy qua Tây Ninh chỉ duy nhất chiếc cầu ở Gò Dầu Hạ. Mà thời ấy toàn chinh chiến, sông lại hoang vu, rất nhiều ái ngại. Điển hình, có lẽ cũng nên nhắc lại hai câu nổi tiếng của nữ sĩ Phan Phụng Văn: “Chiếc nón bài thơ lộng giữa trời/ Ngàn năm mây trắng vấn vương chơi…”. Một bài khác rất hay, kiểu như một bài phú về núi Điện Bà của tác giả T.D. Chánh Đạo lại có những câu rất gợi: “Thạch động mấy từng cao chất ngất/ Phủ tứ bề năm sắc mây lành/ Nước dưới khe rõ rẽ như đờn/ Đá chồng chập trăng lồng hoa nở…” (Theo “Tây Ninh xưa” của Huỳnh Minh).

Đến đây, xin ngưng ngang để giải thích về “núi Điện Bà” gọi tắt là núi Điện. Đấy là do sách “Đại Nam nhất thống chí” chép: “Núi Bà Đinh đất đá cao vót…Núi còn có tên nữa là núi Điện Bà, năm Tự Đức thứ ba (1850) đổi tên gọi hiện nay, ghi vào điển thờ”.

Như vậy, cái tên Linh Sơn là được triều Tự Đức đặt cho núi Bà Đen vào năm 1850. Còn trước đó núi được gọi là núi Bà Đinh hoặc núi Điện Bà. Mà quả thực, cái tên núi Điện Bà đã có từ rất sớm. Theo sách “Ngọn đuốc cửa thiền” của Phan Thúc Duy thì: “Sư tổ Đạo Trung- Thiện Hiếu (tục gọi là tổ Bưng Đỉa Khai sơn núi Điện Bà) trước năm 1794. Đến năm ấy, ông về lập chùa Long Hưng ở Thủ Dầu Một. Sau đó đến đời tổ Tánh Thiền- Quảng Thông mới chính chức lập chùa Linh Sơn Tiên Thạch tự…” (bên cạnh Điện Bà). Nhưng, dù sao đấy cũng là các sách ghi chép lại chuyện xưa, chứ chưa phải là bản gốc của người trong cuộc. Bản gốc- do trực tiếp tác giả đi xem xét và viết lại về sông núi Tây Ninh, trước năm 1820 có lẽ chỉ có Trịnh Hoài Đức với tác phẩm “Gia Định thành thông chí”. Về núi Bà Đen, ông viết: “Là núi cả trấn (Phiên An) trông thấy, ở cách trấn lỵ về phía Tây 261 dặm rưỡi (khoảng 150km- chưa chính xác lắm- TV) đá đất cao vót, cây cối um tùm, suối ngọt đất màu, trên có chùa Vân Sơn, dưới có hồ chằm, cảnh trí thanh u, hang rừng sâu thẳm, cả người Kinh, người Mọi ở rải rác, nhân dân làng mạc phần nhiều nhờ lợi núi rừng, có vàng ngọc và cổ khí người ta có khi bắt được…”.

Vàng ngọc thì chưa nghe có chuyện nào cụ thể, chứ cổ khí thì đến tận năm 2000 người ta còn tìm được khi khai thác đá. Đấy là một lưỡi mai đá tìm thấy từ mẻ đá chở ra làm công viên đầu cầu Quan bên rạch Tây Ninh. Bảo tàng đã tiếp nhận về và xác định niên đại của nó thuộc về thời kỳ Đá mới, khoảng từ 3.000 đến 5.000 năm trước.

Núi Bà Đen

Núi Bà Đen

Thời đầu thế kỷ XIX, sông Vàm Cỏ Đông có tên là sông Quang Hóa. “Gia Định thành thông chí” ghi: “Sông Quang Hóa ở thượng lưu sông Thuận Yên, cách trấn lỵ về phía Tây 160 dặm rưỡi, thủ sở ở bờ Bắc sông lớn, người Kinh, người Hoa, người Cao Miên ở lẫn lộn với nhau để làm ăn…có tuần ty thu lấy thuế ước đồn phàm giữ biên giới, 24 dặm rưỡi thì đến cửa sông Khê Lăng… Ven sông thì ruộng nương mới khẩn, phần nhiều còn là rừng rú; đi lên phía Tây, thì nước chia hai ngả, ngả Bắc (tục danh là Cái Bát) đi về phía Bắc hơn 100 dặm thì cùng nguồn, ngả Tây (tục danh Cái Cậy) đi về phía Tây hơn 150 dặm thì cùng nguồn, đều là đất liền với rừng Quang Hóa…”. Đến nay dòng Cái Bát được coi là dòng chính, còn Cái Cậy (sông Vịnh) được coi là phụ lưu.

Trong đoạn văn trên, thủ sở chắc chắn là vị trí xã Cẩm Giang hiện nay, nơi năm Minh Mệnh thứ 5 đã cho xây bảo Quang Hóa. Từ đây lên 24,5 dặm tới cửa sông Khê Lăng, tức vàm rạch Tây Ninh (khoảng 14km) phù hợp với thục địa hiện nay. Đặc biệt, có thêm một câu ở đoạn kế tiếp là: “có nguồn từ các đầm phá ở núi Bà Đen thấm thía chảy ra, dân theo về lợi rừng núi sông chằm đi lại luôn không dứt”.

Đầm, phá nếu có thì nay cũng không còn bởi công cuộc khai hoang mở đất. Từ ga cáp treo nhìn xuống chỉ thấy rẫy nương bao quanh chân núi Bà Đen. Nhưng suối nguồn thì vẫn còn các con suối Trà Phí, Vườn Điều từ chân núi chảy ra không dứt đổ vào rạch Tây Ninh, rồi tới vàm rạch gần cầu Gò Chai mà đổ vào sông Vàm Cỏ. Mối liên hệ giữa sông Vàm và núi Điện là đây!

Từ TP. Hồ Chí Minh theo đường Xuyên Á đi qua Gò Dầu bắt vào quốc lộ 22B đã dễ dàng tiếp cận dòng sông mẹ. Có thể tìm những bến sông tấp nập bán mua ngay hai bên mố cầu Gò Dầu. Muốn thăm thú di tích lịch sử thì chạy tiếp lối Mộc Bài, rẽ vào ngã ba ấp Voi đến Dinh Ông, hoặc theo quốc lộ 22B đến xã Phước Trạch rẽ vào Cao Sơn tự. Qua đoạn xuyên xã Cẩm Giang đã thấy sông dài chập chờn hiện ra bên trái con đường. Rồi tới vệt Trường Đông, Trường Tây thuộc huyện Hòa Thành có rất nhiều bến sông mang những cái tên bình dị hiền lành như bến Đình, bến Tro, bến Lúa… Muốn tìm đến một bến sông có lịch sử xa xưa, hãy về bến Kéo thuộc xã Long Thành Nam. Lên xa hơn phía huyện Châu Thành, thêm những bến Cừ, bến Gò Nổi, bến Tầm Long. Từ bến Kéo trở lên, vào một ngày giữa tháng 9 dòng sông vẫn còn êm ả lắm dù dưới miền Tây đã có lũ Mê Kông tràn xuống. Hai bên bờ, phần lớn vẫn là đất ruộng thấp cập kề mặt nước. Nhiều con rạch không tên chạy sâu vào giữa ruộng. Có đoạn chỉ thấy mênh mông lúa vàng và những đàn cò trắng bay lên, sà xuống cả trăm con. Thỉnh thoảng mới gặp một đoạn bờ cao chen chúc những cây gừa và dứa dại. Bồng bềnh đó đây những tàn xanh nở tím bằng lăng. Có cả những loài cây trông đẹp tựa bon sai, nở đầy những chùm lá non đỏ thắm gọi là cây xăng máu.

Sông Vàm Cỏ Đông dài 218km, phần chảy qua Tây Ninh là 151km. Trong 4.029,9 km2 toàn tỉnh, chỉ có một phần nhỏ các xã thuộc các huyện Tân Châu, Dương Minh Châu và Trảng Bàng là thuộc lưu vực sông Sài Gòn, còn phần lớn đất Tây Ninh thuộc về lưu vực sông Vàm. Có lẽ đấy là lý do nhiều người khi nhắc đến Tây Ninh là nhắc sông Vàm Cỏ, núi Bà Đen. Chỉ khác là trong khi sông Vàm với tiềm năng du lịch sinh thái tuyệt vời vẫn hững hờ trôi và chờ đợi thì núi Bà đã trở thành điểm du lịch quan trọng nhất ở Tây Ninh.

Sông Vàm Cỏ

Sông Vàm Cỏ

Đã hẳn là thế rồi khi núi Bà được sinh ra giữa đất Tây Ninh, có “giấy khai sinh” cẩn thận. Các nhà thơ dẫu tưởng tượng bay bổng đến mấy cũng không thể hình dung được núi sinh vào kỷ Jura, cách nay 110 triệu năm. Cảnh trí bí ẩn, lạ lùng nên núi sinh ra nhiều huyền thoại. Nào ông Đá Nứt, ông Khổng Lồ… Rồi đạo binh vô hình ở núi Cậu (nay là núi Phụng – không phải núi Cậu ở tỉnh Bình Dương). Đến thời Pháp thuộc vẫn còn huyền thoại ông Hùng dựng chùa chỉ với một ngón tay buộc chỉ. Thời kháng chiến, núi thành nơi chở che cho cán bộ, bộ đội ta đánh Pháp rồi đánh Mỹ. Bởi thế mà ngày nay, bên đá núi lô xô thấp thoáng những mái chùa tươi đỏ, cũng thấp thoáng các mái nhà bia tưởng niệm liệt sĩ và ghi lại chiến công. Như bia ở chùa Hang ghi: đã có 181 cán bộ, chiến sĩ thuộc Phòng Quân báo, Bộ Tham mưu Miền (B2) hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Mà đây mới chỉ là của 2 đơn vị: Liên đội 7 và Tiểu đoàn Trinh sát 47. Vậy còn với hàng chục đơn vị khác, cùng Huyện ủy Tòa Thánh, Dương Minh Châu cũng bao năm gan góc trụ bám núi Bà thì con số hy sinh là bao nhiêu? Hãy còn chưa tính được!

Hòa bình trở lại, núi Bà cũng dần xanh trở lại. Núi tiếp tục là nguồn sống cho biết bao người lên dọn đá, trồng xoài, trồng mãng cầu và chuối. Bên Ma Thiên Lãnh còn có các ruộng rau nõn xanh, trong sạch tuyệt vời. Rừng thiên nhiên mọc lại. Rừng trồng cây giá tỵ đã khép tán ngời xanh bên núi Heo, núi Phụng, mỗi mùa hoa lại góp thêm cho núi một sắc vàng mơ.

Tin vui mới vừa đến đây với núi. Ngay trong năm 2016, năm kỷ niệm 180 năm hình thành và phát triển tỉnh Tây Ninh (1836-2016); Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể Khu du lịch quốc gia núi Bà Đen đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Theo đó, mặt bằng tổng thể đã lên tới 30km2. Núi sẽ có thêm những huyền thoại mới, để Tây Ninh càng xứng danh hơn với tên gọi, là miền quê núi Điện, sông Vàm.

Theo TRẦN VŨ (Tây Ninh Online)

Bạn có thể quan tâm