Những địa danh gắn liền với ruộng đồng, sông nước

Cái bến gần ngôi đình nên mới được gọi là . Địa danh này trở thành tên ấp từ rất lâu rồi. Gần , đây được giải thích là bến nước của một con rạch nhỏ chỉ như cái mương, nên có tên gọi như vậy. Từ tên gọi này cũng đã hình thành tên gọi ấp .

Bến Đình trên bờ sông Vàm Cỏ Đông ngày nay là bến vật liệu xây dựng

Bến Đình trên bờ sông ngày nay là bến vật liệu xây dựng.

Xã Thạnh Đức (huyện Gò Dầu), xưa gọi là làng Thạnh Đức, được thành lập từ thời Pháp thuộc. Lúc đầu, làng Thạnh Đức thuộc tổng Triêm Hóa, quận Trảng Bàng. Xã Thạnh Đức ngày nay có địa bàn rộng hơn 7.268 ha, chia thành 10 ấp. Những năm gần đây, khi đi lại trên quốc lộ 22B qua địa bàn xã Thạnh Đức, chắc ai cũng thấy nhà cửa hai bên đường rất khang trang, khu phố chợ buôn bán sung túc, xa xa phía bên trong là những cánh rừng cao su rộng lớn. Nhưng ít ai biết địa bàn xã này còn một mặt tiếp giáp với dòng sông Vàm Cỏ Đông. Trước kia, nhiều khu vực trên địa bàn Thạnh Đức có bến sông, rạch, bưng biền, lung, rộc… và có những địa danh gắn liền với đặc điểm của từng khu vực. Các địa danh này còn lưu truyền cho đến ngày nay. Trong đó có một số địa danh được dùng để đặt tên ấp. Điều đáng lưu ý là trong tổng số 10 ấp của xã, có 4 ấp tên bắt đầu bằng chữ “Bến” (, Bến Rộng, Bến Đình, Bến Mương); 4 ấp có tên gắn với rộc, cầu, đường (Rộc A, Rộc B, Cầu Sắt, Đường Long); 2 ấp còn lại là Bông Trang và .

Ông Ngô Văn Thài (sinh năm 1937), nhà ở ấp Bông Trang cho biết, trên địa bàn xã Thạnh Đức có con rạch Bàu Nâu (phụ lưu sông Vàm Cỏ Đông) chảy qua. Tính từ cửa rạch (nơi tiếp giáp với sông Vàm Cỏ Đông) đi ngược vào có các bến nước. Đầu tiên là bến Bông Trang, sở dĩ gọi như vậy là vì bến này có nhiều cây bông trang. Cũng do khu vực có nhiều cây bông trang nên mới có tên ấp Bông Trang. Từ bến Bông Trang ngược dòng rạch qua cầu Bàu Nâu (cầu trên quốc lộ 22B bắc qua rạch Bàu Nâu) vài cây số có một bến nước nữa. Bến sâu và rộng. Trên bến có nhiều cây chò, lâu dần khu vực này hình thành địa danh Bến Chò. Xưa kia, khi giao thông đường bộ còn hạn chế, giao thông đường thủy chiếm ưu thế, thương thuyền từ các nơi, nhất là miền Tây Nam bộ ngược dòng Vàm Cỏ Đông, theo rạch Bàu Nâu vào bến Chò neo tàu, ghe lại buôn bán. Cảnh buôn bán lúc ấy khá sung túc. Từ đó bến Chò còn có tên gọi là bến Chợ. Đã lâu lắm rồi bến Chò không còn ghe tàu neo đậu nữa. Cây chò trên bến cũng không còn. Nhưng địa danh Bến Chò thì vẫn còn được nhiều người biết đến. Khu vực bến Chò hiện vẫn còn một ngôi đình cổ kính, được gọi là đình Bến Chò. Địa danh Bến Chò được duy trì đến ngày nay và nó đã thành tên ấp. Con rạch Bàu Nâu có hai rạch nhánh, một nhánh từ khu vực ấp Cầu Sắt chảy ra và một nhánh từ khu vực ấp Bến Rộng đổ vào. Hai nhánh này gặp nhau tại địa phận ấp Bến Chò. Theo lời ông Thài, từ lúc ông có thể nhận biết đến giờ, không thấy con rạch nhánh ở khu vực ấp Bến Rộng (ngày nay) có cái bến nào. Và ông cũng không rõ vì sao người ta lại gọi khu vực này là Bến Rộng. Từ lâu rồi Bến Rộng cũng được dùng đặt tên ấp. Còn con rạch nhánh từ hướng ấp Cầu Sắt chảy ra thì cũng nhỏ hẹp. Trong quá trình xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thành lập các đồn điền cao su. Để việc đi lại và vận chuyển mủ cao su thuận lợi, chúng đã mở đường và bắc 2 chiếc cầu sắt qua hai nhánh của con rạch Bàu Nâu; chiếc bắc qua rạch nhánh phía ấp Bến Rộng gọi là cầu sắt ngoài, chiếc còn lại gọi là cầu sắt trong. Cầu Sắt trở thành địa danh cho cả khu vực và nó cũng được dùng để đặt tên ấp.

Bến Mương nhỏ hẹp, đầy lục bình vẫn có nhiều ghe neo đậu

Bến Mương nhỏ hẹp, đầy lục bình vẫn có nhiều ghe neo đậu.

Địa danh Bến Đình xuất phát từ một bến nước sông Vàm Cỏ Đông. Trên đường dẫn xuống bến và cách bến chừng vài trăm mét có ngôi đình làng Thạnh Đức. Đây là ngôi đình cổ được xây dựng từ năm 1915. Cái bến gần ngôi đình nên mới được gọi là bến Đình. Địa danh này trở thành tên ấp từ rất lâu rồi. Gần Bến Đình có Bến Mương, đây được giải thích là bến nước của một con rạch nhỏ chỉ như cái mương, nên có tên gọi như vậy. Từ tên gọi này cũng đã hình thành tên gọi ấp Bến Mương.

Trên địa bàn xã Thạnh Đức có một vùng trũng sâu, lầy trấp (đất không chân) rất khó sản xuất nằm hai bên con rạch (phụ lưu sông Vàm Cỏ Đông) – thường gọi là rộc. Sau này, Rộc trở thành tên ấp (những năm gần đây, ấp Rộc tách thành hai ấp là Rộc A và Rộc B). Ở Thạnh Đức xưa kia còn có một cánh đồng trũng quanh năm ngập nước, trên cánh đồng này có một con đường đất đi ngang qua. Khi qua cánh đồng, người ta phải long dưới nước mà đi, từ đó mà hình thành địa danh Đường Long. Ngày nay, cánh đồng này không còn ngập nước nhưng địa danh Đường Long thì vẫn còn đó và đã trở thành tên ấp.

Riêng tên gọi của ấp Trà Võ (trên địa bàn ấp có nghĩa trang liệt sĩ của tỉnh) cũng đã có từ rất lâu đời nhưng hỏi vì sao có cái tên gọi ấy thì nhiều người trong ấp đều không rõ.

Theo T.L (Tây Ninh Online)

Bạn có thể quan tâm