Một người thầy của bao thế hệ

Thường về quê xứ Trảng vào những dịp lễ tết, mỗi lần đến thăm nhà người thân, tôi không khỏi tò mò khi nhìn sang phía đối diện chứng kiến cảnh tụ họp vui vẻ, ấm áp trong ngôi nhà của một người thầy giáo tuổi đã vào hàng “xưa nay hiếm”. Họ không còn trẻ nữa, đa số tóc đã hoa râm, có người đầu đã bạc trắng…

Thầy Lê Văn Bửu

Thầy Bửu

Nhìn qua vóc dáng bên ngoài, thầy Bửu – chủ ngôi nhà ấy có những nét hao hao giống người thầy đã dạy tôi thuở nhỏ – năm tôi còn học lớp Năm (lớp Một bây giờ). Từ khi thầy tôi đi kháng chiến- hồi mấy mươi năm trước, tôi không còn dịp gặp lại thầy nữa. Thế là tôi tìm đến xin làm quen với thầy Bửu.

Tên đầy đủ của thầy là Lê Văn Bửu. Thầy sinh năm 1933, cha mẹ thầy từng trực tiếp tham gia cách mạng thời tiền khởi nghĩa. Em ruột thầy là thương binh mù mắt thời kháng chiến, nay đã mất. Xưa gia đình thầy ở gần chợ Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng. Xóm chợ bị giặc Tây đốt cháy, cư dân bỏ xứ, lưu lạc khắp nơi, gia đình thầy Bửu tìm đến khu thị tứ Trảng Bàng sinh sống.

Thầy được tiếp tục học lên bậc trung học nhờ thi đậu vào Trường công lập Petrus Ký rất nổi tiếng ở Sài Gòn thời ấy. Tốt nghiệp đại học, thầy đi dạy ở các trường tư thục, bán công như Minh Đức, Đặng Văn Trước, Minh Tân… đổ dài từ Củ Chi, Trảng Bàng, Gò Dầu về thị xã Tây Ninh góp phần nuôi sống gia đình – cả người em thương binh trong cứ.

Năm 1958, thầy Bửu vừa là giáo sư (cách gọi giáo viên trung học thời chế độ cũ) đứng lớp dạy, vừa là phó giám đốc phụ trách ngoại vụ tham gia điều hành hoạt động của Trường trung học tư thục Thanh Khiết ở Trảng Bàng. Trường này do linh mục Nguyễn Thanh Khiết đứng tên thành lập nhưng ông không trực tiếp quản lý mà giao cho ban giám đốc điều hành – trong đó có thầy Bửu.

Năm 1983, được Nhà nước mời đi dạy trở lại, thầy Bửu như cởi bỏ được mặc cảm của người từng phục vụ chế độ cũ. Đến năm 2000 thầy nghỉ hưu. Nhắc đến sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, thầy có vẻ xúc động. Ôn những kỷ niệm vui buồn trong đời dạy học, thầy lại kể về tình cảm của những người học trò thân yêu một thời đã xa.

Tôi hỏi về cuộc sống của thầy trong suốt mười năm dạy học và tham gia lãnh đạo Trường tư thục Thanh Khiết- ngôi trường mang biệt danh là “trường Việt Cộng” lúc bấy giờ. Đó cũng là khoảng thời gian mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn tập trung thực thi các sách lược kìm kẹp, tìm diệt quân dân cách mạng miền Nam, ra sức cưỡng bức dồn dân vào ấp chiến lược để cách ly người dân với phong trào cách mạng,

Thầy Bửu dù tuổi đã cao nhưng không khó khăn lắm để nhắc nhớ lại chuyện của thế kỷ trước: “Lúc thầy dạy học là thời điểm cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc đã đến hồi cao trào, rất ác liệt. Nhiều chiến sĩ cách mạng là học sinh của Trường trung học Thanh Khiết đã hy sinh trong lúc làm nhiệm vụ tổ chức giao cho; như em Sơn hy sinh năm 1969 khi trên đường đi công tác cùng đội nữ biệt động Trảng Bàng; hay như em Lê Văn Đức ôm mìn đánh địch, Phan Văn Tánh, Độ đen… hy sinh khi đang làm nhiệm vụ trong lòng thị tứ.

Có lần em Phong – đội trưởng đội biệt động nữ huyện Trảng Bàng mang truyền đơn chống Mỹ – Ngụy vào trường, thầy nhìn thấy được nhưng cứ lờ đi, chỉ khuyên em nên hết sức cẩn thận. Trong số học trò của thầy có Phan Trung Kiên, Lê Thị Bân, Trần Việt Biên, Lê Hồng Châu, Lê Minh Thành… sau này đều trở thành cán bộ chủ chốt, cấp cao của Đảng và Nhà nước.

Riêng bản thân thầy – thời tuổi trẻ cũng từng tham gia hoạt động ở cứ, trải qua các đơn vị Chi đội 5, Liên quân C, Trung đoàn 305, Tiểu đoàn 303 chủ lực Quân khu 7. Năm 18 tuổi, thầy bị sốt rét nặng, thế là đơn vị cho “về thành”. Lúc này, thầy theo gia đình về thị tứ Trảng Bàng, nhờ người làm giấy khai sinh, đổi tên họ lại, đồng thời giảm bớt 5 tuổi để đi học, nhờ vậy không bị địch nghi ngờ”.

Theo lời kể, lúc thầy giáo Bửu còn đang dạy học, tổ chức cách mạng có cho người móc nối để đưa thầy vào cứ nhưng do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, thầy không thể thu xếp để đi được. Cũng là vì thầy phải làm lụng, kiếm tiền để chăm lo cho mẹ cùng bầy em năm bảy đứa hãy còn nhỏ, cộng thêm các cháu – con của người em trai vốn là thương binh mù mắt. Mẹ của thầy Bửu lúc ấy đang bị địch nghi ngờ, bắt giữ và suýt bị đày đi Côn Đảo.

Năm 1968, sau nhiều lần bị gọi đi quân dịch, thầy Bửu đã chủ động tìm phương cách để thoái thác như nhịn đói cho giảm cân xuống dưới 40kg, thức khuya, hút thuốc (cho phổi mờ đi) để được hoãn dịch. Nhưng cách đó chỉ áp dụng được vài năm, cuối cùng thì dù không muốn, thầy vẫn buộc phải đi.

Các thế hệ học trò của thầy Bửu những năm trước và sau 1960 rất đông. Khi trưởng thành, mỗi người có một hoàn cảnh sống, một địa vị xã hội khác nhau nhưng số đông trong họ vẫn giữ thói quen giống nhau là thường về Trảng Bàng thăm thầy giáo cũ mỗi khi có dịp.

Được biết, Thượng tướng Phan Trung Kiên – từng là học trò của thầy Bửu, người quê ở Củ Chi, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông được người đời biết đến như một vị tướng có tấm lòng nhân ái, thường tham gia các hoạt động từ thiện, nhất là với các gia đình chính sách. Ông cũng là một trong những học trò rất coi trọng tình nghĩa thầy trò.

Thầy Bửu chính là người đã có công dạy dỗ ông từ thuở còn thơ dại. Vì thế cứ vào những dịp lễ, tết hay Ngày Nhà giáo Việt Nam, ông thường lên thăm thầy hoặc cho người đón thầy về nhà riêng để trò chuyện, thăm hỏi, chia sẻ vui buồn với thầy. Mỗi lần gặp nhau, thầy trò cùng ôn lại những năm tháng đã qua khi còn dưới mái trường Minh Đức ở Trảng Bàng.

Trong số học trò cũ của thầy có bà Lê Thị Bân – nguyên Bí thư Tỉnh Ủy Tây Ninh. Khi còn đương chức, dù rất bận rộn, bà vẫn cố gắng tranh thủ ghé thăm thầy Bửu trong những chuyến công tác về Trảng Bàng. Hình ảnh người thầy vẫn nguyên vẹn trong ký ức của bà: “Đó là một người thầy hết sức tâm huyết, tận tình. Thầy rất yêu quý học sinh.

Thời còn chiến tranh, thầy thường bênh vực những học sinh bị chính quyền thời ấy hiếp đáp, hù dọa, bắt bớ. Thầy yêu cầu phải trưng bằng chứng về việc bắt học trò của thầy, không thể bắt mà không có nguyên cớ rõ ràng. Thấy thầy cứng rắn, dám mạnh dạn đấu tranh, chúng cũng đâm nể sợ, cuối cùng cũng phải chịu thua, cho thầy được nhận học sinh về trường tiếp tục học”.

Sẵn chuyện, tôi hỏi thêm về việc thầy Bửu từng tham gia phục vụ chính quyền chế độ cũ, liệu điều đó có làm cho những cán bộ cách mạng như bà e ngại không, nguyên Bí thư Tỉnh ủy trả lời rằng: “Thời chiến tranh mà! Đâu phải ai cũng có điều kiện để đến với cách mạng. Bản thân thầy chỉ có ước mơ cao nhất là được làm thầy giáo, nhưng hoàn cảnh không may đã đưa đẩy thầy đứng về phía quân đội Sài Gòn và thầy đã phải chịu thiệt thòi về mình, thế cũng đủ xót xa lắm rồi. Điều đáng nói là thầy Bửu không có gây nợ máu với dân, với Đảng”.

Nhà giáo ưu tú Lê Hồng Châu – nguyên Giám đốc Sở Giáo dục – Đào tạo cũng là một trong những học trò của thầy Bửu. Tuổi đã gần 80 nhưng thầy Châu vẫn nhớ như in những chuyện của một thời quá khứ đã xa, cứ như nó vừa mới xảy ra gần đây thôi: “Tôi luôn nhớ về những người thầy thời còn học ở Trường trung học bán công Đặng Văn Trước (Trảng Bàng), nhớ nhất vẫn là thầy Lê Văn Bửu. Thầy Bửu rất tốt với học sinh, thầy dạy dễ hiểu, dễ nhớ và rất tận tâm. Vào những năm sau giải phóng, nhất là thời điểm thầy Bửu đi dạy trở lại (1983), tôi và thầy Bửu thường hay gặp gỡ trao đổi về công tác quản lý và giảng dạy trong ngành giáo dục. Thầy Bửu rất tâm huyết với nghề, thương yêu học trò như em út, con cháu”.

Làm thầy trải qua hai chế độ, thầy Bửu không thể nhớ mình đã có bao nhiêu học trò. Nhưng có lẽ sự tận tụy và tình thương yêu của thầy thì không có người học trò nào quên được. Riêng tôi, dù không được học thầy (bởi lúc thầy đi dạy, tôi mới có mặt trên đời vài ba năm) nhưng qua những lần về thăm quê, có dịp tiếp xúc với thầy, có dịp chứng kiến những hình ảnh đẹp nói lên mối quan hệ thắm thiết giữa người thầy giáo già với các thế hệ học sinh mà thầy từng dạy trong chiến tranh cũng như trong thời bình, tôi thật sự ngưỡng mộ.

Theo Nghiêm Khánh (Tây Ninh Online)

Bạn có thể quan tâm