Không gian văn hóa Bến Đình

Điểm thứ nhất này chính là di tích Miếu Bà – Bến Đình, hiện nằm cặp con đường từ bến phà đến thị trấn Bến Cầu và ở rất gần đầu cầu của cây cầu mới đang xây dựng. Điểm thứ hai chính là , hiện thuộc địa bàn xóm Khuất, ấp B, Tiên Thuận.

Vào năm 1985, Bảo tàng tỉnh đã có phát hiện lại và tổ chức khảo sát, đo đạc… Chúng ta còn có thể mở rộng không gian văn hóa Bến Đình với hai di tích chủ chốt đã kể, bằng việc kéo không gian này vào các ấp Bàu Tràm, Bàu Tép của xã Tiên Thuận.

Thành đắp đất ở Bến Đình.

Thành đắp đất ở Bến Đình.

Xin được bắt đầu kể về không gian văn hóa này từ những trang viết của Henri Parmentier (H.P), Trưởng ban Khảo cổ Trường Nghiên cứu viễn đông thuộc Pháp. Bài in trong tạp chí của trường, gọi tắt là B.E.F.E.O số 9 năm 1909; mục vết tích của hai di tích làng Tiên Thuận, tổng Giai Hóa. Ông viết: “Hai nhóm vết tích này nằm bên bờ phải của sông Vàm Cỏ, cách nhau khoảng 900m. Điểm thứ nhất rất gần sông, là một gò đất tự nhiên trên có một miếu đơn sơ. Ngôi miếu này bảo tồn một phần dấu vết của một bamun qua vài nét móng chạy theo hướng Bắc hơi lệch Tây. Trong miếu có đặt một tượng Siva ngồi trên lưng một Nandin (bò thần) đứng rất thú vị. Kích thước nhỏ: cao 0m56, rộng 0m41, dày 0m18 nhưng được tạo hình khá đẹp…”.

Tại đây, tác giả còn: “thấy những mảnh thú vị khác. Đó là những nụ ngói móc bằng đất nung, có lẽ là những trang trí của mái lợp”. Cũng xin nói luôn rằng, điểm thứ nhất này chính là di tích miếu Bà- Bến Đình, hiện nằm cặp con đường từ bến phà đến thị trấn Bến Cầu và ở rất gần đầu cầu của cây cầu mới đang xây dựng. Dĩ nhiên, giờ chỉ còn ngôi miếu Bà trên đỉnh gò. Những pho tượng mà H.P kể đã được người Pháp đem đi. Và có thể do điểm cao này có vị trí đặc biệt nào đó nên người Pháp đã đặt trước miếu một cột mốc tọa độ, gắn bảng thép ghi số hiệu trên trụ móng bê tông sạn.

Điểm thứ nhất thì nhiều người đã biết. Còn điểm thứ hai, được mô tả kỹ lưỡng từ năm 1909 chắc nhiều người chưa thấy, vì nó nằm khuất trong một xóm nhỏ có tên là xóm Khuất. H.P kể tiếp: “Điểm thứ hai là một gò đất cao từ 2 đến 3m; một hào rộng chừng 10m, nay là ruộng lúa, bao quanh một khoảng vuông có cạnh khoảng 80m, hướng khá chính xác theo một con đường nhỏ cắt ngang hào phía Đông. Trên trục chính, ở điểm cao nhất thấy một đống nhỏ các đổ nát- vết tích một ngôi đền bằng gạch, chắc là không có vòm… Ở giữa, phần chân có một cây mọc trên gò các đổ nát, dân địa phương đã để một phần thân một tượng nữ tìm được ở phía Đông trong một hố đào trước đó. Chúng tôi may mắn tìm được phần đầu của pho tượng này. Tượng có thể là tượng Laksmi… chiều cao toàn bộ là 0m90. Trong quá trình khai quật chúng tôi còn gặp một linga nhỏ bị vỡ. Nó xem ra được lưu giữ trong chính phần xây các móng, và như vậy là khá cổ… Cũng như các linga khác trong vùng, nó có tính chất hiện thực hơn là thường gặp. Chúng tôi để nó ở Sở Cẩm Tây Ninh…”.

Điểm thứ hai ấy chính là gò Chùa thầy Lưỡng, hiện thuộc địa bàn xóm Khuất, ấp B, Tiên Thuận. Vào năm 1985, Bảo tàng tỉnh đã có phát hiện lại và tổ chức khảo sát, đo đạc. Kết quả là gò có kích thước nhỏ hơn so với ước đoán của H.P, chỉ rộng 51 và 60 mét (hướng Đông – Tây). Dấu vết hào nước chỉ còn ở hai phía Bắc, Nam và cũng đã bị bồi lấp cạn.

Điều thú vị nhất là dù đã hơn 100 năm trôi qua nhưng hai di tích này vẫn còn giữ được tương đối hình thế như trước. Đặc biệt hơn, đây là những vị trí ác liệt của những làng xã chiến đấu năm xưa của huyện Bến Cầu suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Tháng 2.2016, qua khảo sát thực địa trên gò Chùa thầy Lưỡng thấy có thêm một cây bồ đề- hẳn là của ngôi chùa xây sau năm 1909 (vì lúc H.P đến chưa có nó) và một nền chùa vụn vỡ. Có thêm một ngôi miếu nhỏ, trong bày 2 pho tượng.

Chúng ta còn có thể mở rộng không gian văn hóa Bến Đình với hai di tích chủ chốt đã kể, bằng việc kéo không gian này vào các ấp Bàu Tràm, Bàu Tép của xã Tiên Thuận. Tại nhiều ấp của xã này cũng có các địa danh gò tháp có các vết tích tương tự như gò miếu Bà nhưng đã bị san ủi thành vườn, rẫy. Vậy không gian văn hóa này chỉ có thể tận dụng thêm một di tích Bàu Ông thuộc Bàu Tép và khu vực đình Tiên Thuận trên địa bàn ấp Bàu Tràm.

Thật đáng ngạc nhiên là ở Bàu Ông đã phát hiện một di tích quý giá, đó là khối đá tạo hình hoa sen. Bông sen có đường kính 0m80 và cao 0m90, giữa mặt trên có khoét một lỗ tròn để đặt một viên đá hình trụ tròn đường kính 15cm, giống một linga (biểu tượng thờ của tín ngưỡng Bà la môn thời văn hóa Óc Eo). Vì thế nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây chính là một bộ linga – yoni cách điệu.

Dân địa phương kính cẩn gọi đây là Ông Đá. Vì thế bàu nước ở phía Đông gò đất có ông Đá cũng được gọi là Bàu Ông. Thật kỳ lạ là bàu vẫn giữ nguyên vẹn cả hình chữ nhật, với kích thước (73×57) mét (Đông- Tây và Nam- Bắc) lẫn bờ bàu rộng từ 16- 20 mét là rừng nguyên sinh với cổ thụ, dây leo và cây tạp. Trừ những mùa khô kiệt, thì bàu vẫn có nước với luênh loang bèo tấm cùng sen, súng… Hoang vu đến nỗi cách nay khoảng 10 năm, vẫn còn nguyên trái đạn cối găm ở thân cây. Chuyện được kể trên báo nên đầu đạn đã được gỡ đi.

Mũi giáo tìm được ở Bến Đình năm 2015.

Mũi giáo tìm được ở Bến Đình năm 2015.

Một công trình tín ngưỡng thuần Việt, mới được phục hồi năm 2012 đang ở trong không gian văn hóa Bến Đình, chính là đình Tiên Thuận. Đây là khu đất đình cũ nên có nhiều cây cổ thụ họ dầu. Đặc biệt nhất là cây lộc vừng trắng mà các bậc kỳ lão của xã đều cả quyết là có tuổi trên dưới 300 năm. Lộc vừng mà có trái to cỡ trái vú sữa lớn, vào mùa trái rụng đầy mặt đất.

Mặc dù đã có đình mới nằm ở ấp khác nhưng người dân tín ngưỡng của xã Tiên Thuận vẫn cương quyết xây lại ngôi đình cũ. Cho tới đầu năm mới Bính Thân 2016, đình mới xây xong phần gạch, bê tông của ngôi chính điện. Phần ngoài chưa tô trát, bàn thờ thần nông vẫn tạm bợ gỗ tre nhưng đã có rất đông bà con trong ngoài xã về dự hội Kỳ yên rằm và 16 tháng Giêng âm lịch. Một dòng chảy tín ngưỡng truyền thống đã được phục sinh, bên cạnh các dòng chảy của nền văn hóa mới.

Và như vậy, không gian văn hóa Bến Đình, nói chính xác ra là của xã Tiên Thuận, cả vật thể và phi vật thể đã được giữ gìn và từng lúc được phát huy trong cuộc sống đương đại. Và những người có trách nhiệm xin cũng đừng quên! Cuộc khảo cổ năm trước ở bến sông đến nay đã hơn năm vẫn chưa có lời giải đáp? Và vài chục mét thành đất, nghi là thành đất bảo Định Liêu đắp thời vua Thiệu Trị năm thứ ba (1843), đến năm Tự Đức thứ ba (1850) được chuyển làm thành huyện vẫn đang là nơi ban ủi tự do. Động tác giữ gìn và bảo vệ nó lúc này vẫn chỉ dựa vào tự nguyện của người dân.

Theo Trần Vũ (Tây Ninh Online)

Bạn có thể quan tâm