Gò Quan Cựu ngày nay

Từ các cứ liệu đã trình bày, có thể thấy rõ thôn Long Thành đã được thiết lập sớm hơn năm 1844, năm mà nhiều tài liệu đã chép. Và phần đất được khai khẩn sớm nhất của làng chính là hiện nay. Chung quanh gò còn mênh mông các cánh đồng lúa…

Vườn xoài lão trên gò.

Vườn xoài lão trên gò.

Cứ theo những thông tin trong bài “Đi tìm giồng Ông Quan Cựu” trên báo Tây Ninh ngày 20.4.2016 thì ở đây từng có một đồn điền do triều Nguyễn lập ra từ trước thời vua Thiệu Trị (1841- 1847). Và Tây Ninh chắc cũng đã có nhiều đồn điền như thế. Có điều, sau khi an ninh lãnh thổ đã tạm ổn định thì các đồn điền ấy đã nhanh chóng trở thành một bộ phận của thôn làng sở tại. Nhân ngày lễ hội Kỳ yên đình Long Thành của thôn Long Thành xưa- thôn sở tại có xóm dân cư Gò Duối cũng nên nhắc lại những mốc cơ bản của việc hình thành và phát triển xã Long Thành.

Sách “Từ điển Địa danh hành chính Nam bộ”, có mục từ Long Thành như sau: “thôn thuộc tổng Hòa Ninh, huyện Tân Ninh, phủ Tây Ninh, tỉnh Gia Định, triều Thiệu Trị, Tự Đức. Đầu Pháp thuộc vẫn tổng cũ, đặt thuộc hạt Thanh tra Tây Ninh. Ngày 12.11.1872 hợp với th.Thanh Điền thành th. Long Điền. Ngày 31.10.1877 lập lại do chia làng Long Điền. Ngày 6.3.1891 giải thể, nhập vào làng Thanh Điền. Sau đó được lập lại thuộc hạt Tham biện Tây Ninh… Sau 1956 gọi là xã, đổi thuộc tg Hàm Ninh Thượng, q.Châu Thành… Ngày 17.4.1959 đổi thuộc quận Phú Khương…Từ 1979 đổi thuộc h.Hòa Thành và chia làm 3 xã mới: Long Thành Nam, Long Thành Bắc và Long Thành Trung…”.

Như vậy là chỉ riêng trong thời Pháp thuộc (1862-1945), làng Long Thành cũng đã hai lần bị mất tên do sáp nhập. Đáng chú ý là với cách viết như trên, cần được hiểu là đến đời vua Thiệu Trị đã có làng Long Thành có nghĩa rằng Long Thành có thể đã có từ trước đó. Điều này muốn xác minh, nhất thiết phải xem lại các tư liệu cũ của làng. Thật may sao, trong cuốn sổ ghi chép việc làng lập năm 1943 (đã kể) có một bản viết tay gọi là “Tờ Di ngôn và lý đoán, giao Chánh tiền hiền và hậu hiền”. Bản này cũng do cụ cựu Hương cả Trần Văn Liêng viết, xin trích một vài đoạn sau: “Cụ sơ tôi là ông Trần Văn Thiện, sinh năm 1788 tại làng Trung Lập được 40 tuổi, đành lìa quê hương tách thân lên vùng này, để quy dân lập ấp, lúc ấy nhằm vua Minh Mạng năm 1822, sơ tôi quy dân thú tạo thành điền năm 1828, sơ tôi đặng 50 tuổi, thì quan trên cho sơ tôi làm chức Thôn trưởng, mới đặt hiệu làng là Thới Long, qua năm 1841 nhằm vua Thiệu Trị, thì sơ tôi lên chức Cai tổng; kể vị cố tôi là Trần Văn Họp, cũng làm chức Thôn trưởng, đặt hiệu lại là làng Thới Định, lần hồi cố tôi làm đến chức Phó Tổng, qua năm 1847 nhằm vua Tự Đức mới đặt hiệu lại là làng Long Thành…”.

Mặc dù đoạn viết trên có đôi chỗ lầm lẫn nhưng vẫn có thể xác định hợp lý quá trình mở đất lập làng. Như năm 1822 thì cụ Thiện mới 34 tuổi (không phải 40). Đến tuổi 40 (1828) công việc quy dân lập ấp của cụ đã cơ bản xong. 10 năm sau nữa, khi ông 50 tuổi (tức năm 1838) thì được quan trên chính thức cho làm thôn trưởng, đặt tên thôn mới là Thới Long. Những điều vừa kể cũng đã khác với bài “Di tích lịch sử đình Long Thành” (trang 16, sách “Di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh tỉnh Tây Ninh (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh xuất bản năm 2014), điển hình là câu: “cụ Trần Văn Thiện và nhân dân vùng Trung Lập (Củ Chi) đến khai phá vào những năm 1844” (không biết những năm 1844 là những năm nào?).

Ngay cả chi tiết về năm lập đình và các năm tu sửa lớn, sách kể trên cũng cần xem xét lại (lập đình 1883, tu sửa các năm 1907 – 1910 và 1929, 1938…). Đấy là vì có một trang trong sổ việc làng chép việc thiết lập và xây lại đình. Theo đó: Đình Long Thành, tại ấp Bến Kéo xây dựng năm 1915. Đến ngày 14 October 1942 hương chức của làng có đơn xin làm lại “do bị mối ăn hư tệ và bị gió xiêu”. Đơn được Cai tổng Mạnh và Quận trưởng Huê phê chuẩn cho phép. Đến ngày 3.12.1942 thì “Hương chức nhóm hạ triệt hai nóc đình. Đến ngày 9.3.1943 thì khởi dựng nhà bếp Đông lang…”.

Từ các cứ liệu đã trình bày, có thể thấy rõ thôn Long Thành đã được thiết lập sớm hơn năm 1844, năm mà nhiều tài liệu đã chép. Và phần đất được khai khẩn sớm nhất của làng chính là Gò Ruộng Quan – Gò Duối hiện nay. Chung quanh gò còn mênh mông các cánh đồng lúa. Trong khi đất gò hiện tại chỉ dưới 30 ha, hiện là nơi cư trú cho 63 hộ dân. Có thể vẫn còn đâu đây bóng dáng của những dân binh đi mở đất, lập làng.

Cái miếu bà Thủy Long đã không còn dấu vết. Nhưng liệu có phải nó đã được biến đổi thành dinh thờ Huỳnh Công Nghệ hiện nay? Ở Tây Ninh đôi khi vẫn gặp trường hợp này, như miếu Bà Linh Sơn ở xã Hiệp Tân, huyện Hòa Thành có xuất xứ từ một miếu Quan Âm. Bên trái miếu ở về phía trước có một bụi cây duối vào hàng cổ thụ. Cây nhiều thân lớn đan bện vào nhau, lớn nhất cỡ hơn một người ôm. Với kích cỡ ấy, cây duối này cũng phải hơn 200 năm tuổi. Và chắc hẳn trước đây còn rất nhiều cây duối mà người dân đã chặt đi, làm vườn rẫy. Thật may mắn, đất miếu hơn một ha hiện nay còn rất nhiều cây xoài thanh cũng vào hàng cổ thụ. Bà chủ miếu họ Phạm kể: đó là nhờ các cụ đời trước đã quyết giữ lại, như một kỷ niệm của ông bà. Đến nay, vườn cũng đã có đến 2- 3 đời xoài, cây cổ nhất là cây ở về bên trái miếu, gốc xòe ra năm bảy thân cùng các lỗ hang. Cũng có nhiều cây chết đã bị cưa đi. Và thú vị làm sao, giữa trời tháng 4 khô khát có rất nhiều chim cu gáy bay về đậu trên các cây xoài cổ trên gò. Có lẽ tổ tiên chúng đã đồng hành cùng với các lưu dân gò Ruộng Quan thời mở đất.

Thông tin mới nhất: xã Long Thành Nam đã quy hoạch ở đây một nghĩa trang. Thật chẳng biết là có nên không? Vì bây giờ tuy gò còn hoang vu nhưng địa thế ấy, chỉ cách cổng đình Long Thành bên quốc lộ 22B vừa đúng 2,1km, với bốn bề sông rạch, lại gắn với lịch sử phát triển làng xã như thế thì gò Duối xứng đáng dành đợi những dự án tiềm năng lớn lao, tốt đẹp hơn về du lịch sinh thái môi trường.

Theo Trần Vũ (Tây Ninh Online)

Bạn có thể quan tâm