Độc đáo phong tục văn hóa người Tà Mun ở Tây Ninh

Đồng bào dân tộc ở Tây Ninh hiện nay có khoảng 1.200 người. Thế nhưng, tộc không có tên trong 54 dân tộc Việt Nam. Đã có nhiều ý kiến cho rằng tộc là một nhánh của tộc người XTiêng ở tỉnh Bình Phước. Nhưng theo nhiều người dân Tà Mun thì tộc và XTiêng khác nhau.

Người XTiêng sống ở Bù Đăng, Bù Đốp còn người Tà Mun sống ở Sóc Năm. Vì cuộc mưu sinh, bà con dân tộc Tà-mun đã chuyển dần về phía Nam và định cư ở xã Ninh Thạnh, thị xã Tây Ninh và xã Suối Đá, huyện Dương Minh Châu từ những năm 30 của thế kỷ trước. Sau giải phóng (30-4-1975), một bộ phận cũng vì mưu sinh đã chuyển lên vùng đất mới thuộc xã Tân Thành, huyện Tân Châu và hai xã Tân Bình, Thạnh Tân, thị xã Tây Ninh.

Nét đặc thù của văn hóa dân tộc Tà Mun (Ảnh: Sưu tầm)

Nét đặc thù của văn hóa dân tộc Tà Mun (Ảnh: Sưu tầm)

Theo nghiên cứu của Sở Văn hóa Thông tin Tây Ninh, tộc người Tà Mun và XTiêng khác nhau hoàn toàn vì họ có hai ngôn ngữ khác nhau, kể cả một số phong tục, tập quán và truyền thống âm nhạc… Có thể xem đây là một nhóm dân tộc có sự hợp giao, cộng cư với hai nhóm dân tộc lớn XTiêng và Châu Ro ở phía nam Trường Sơn. Nhưng họ lại chịu ảnh hưởng sâu sắc nền văn hóa của tộc người Khmer.

Do dân số quá ít và trải qua nhiều biến động, nhất là cuộc sống cộng cư nên họ dễ dàng hòa nhập với cộng đồng. Các làn điệu dân ca nguyên thủy ngày càng hiếm, mai một dần đi. Đa số làn điệu hiện nay ảnh hưởng các làn điệu, bài bản của người Khmer như một số bài bản trong các nghi lễ “chong têi” (chông ti-pia-am hôi) hay “gơ ốp-puut” (lễ cột chỉ, dâng trầu cau ra mắt) và một số làn điệu hát ru… Về bài bản dân ca truyền thống có ba thể loại: hát nghi lễ, hát ru và hát sinh hoạt giao duyên qua lao động sản xuất. Trong các thể loại thì hát sinh hoạt là thể loại phong phú nhất với nhiều bài hát đơn giản, mộc mạc nhưng cũng có bài khá độc đáo đến bất ngờ.

Về phong tục thì tục “Cưới chồng” là nét văn hóa đặc trưng của họ. Điều khác biệt trong phong tục này là có ông mai bên nhà trai sang nhà gái dạm hỏi trước (Hanh-Lip-Xana), nhưng do bên nhà gái tổ chức rước rể (Hanh num-Kon Klô Xua) hay (Chun Kon Klô). Khi đưa chàng rể qua nhà gái, đàng trai sẽ hát múa những bài hát đưa rể gọi là Xavên-Keo Kôc. Theo già làng Lâm Sanh thì bài bản hát múa này hầu như đã thất lạc, thất truyền.

Về tập quán tộc người Tà Mun có các lễ hội như lễ cầu mưa, lễ gieo hạt, lễ cúng cơm mới, lễ bỏ mả… Hiện nay, họ chỉ còn giữ lại lễ cúng cơm mới, bởi lẽ đây chính là ngày Tết Sa-uôn-kô Kha-môn, Tết cổ truyền của dân tộc họ, diễn ra vào cuối tháng Tám, đầu tháng Chín Âm lịch. Tục này có nhiều nét giống với Tết Nguyên đán, Tết cổ truyền.

Bà con người Tà Mun thuở còn sống du canh, du cư có 2 loại giống lúa hết sức độc đáo tên gọi T\’rô và Sau-sơ-ra. Đây là các giống lúa rẫy, nay đã mất giống, có thời gian sinh trưởng từ đầu mùa mưa đến cuối tháng Tám Âm lịch thì chín rộ. Độc đáo ở chỗ là khi lúa mới chín vàng mơ, bà con đã kéo nhau ra rẫy để thu hoạch, bởi nếu để lúa chín nữa, thóc sẽ rụng hết. Họ đeo gùi trên lưng, dùng tay tuốt từng bông lúa bỏ vào gùi, mang về nhà chứa vào bồ.

Một nét độc đáo khác là khi nấu cơm, họ mang lúa ra luộc cho chín rồi mới mang ra phơi cho khô, sau đó mới dùng chày giã thành gạo, cơm mới dẻo và ngon. Sau khi thu hoạch xong, họ tổ chức cúng thần linh đã phù hộ cho mưa thuận gió hòa để họ được một mùa vụ bội thu gọi là lễ rước nước. Theo tập tục, mọi người cùng mặc áo váy mới, cùng đóng góp lúa nếp, heo, gà, vịt… cho làng để tổ chức cúng ông bà chung vào đêm cuối tháng Tám, sau đó mới trở về nhà cúng rước ông bà riêng của từng nhà.

Các ngày mùng một, mùng hai, mùng ba tháng Chín Âm lịch, sáng sớm họ cúng ông bà rồi mới đi chúc thọ lẫn nhau, rồi cùng nhảy múa, ca hát… Phụ nữ thì sặc sỡ trong các bộ áo váy, trẻ con thì xúng xính áo quần đủ kiểu dáng riêng của dân tộc, đàn ông cũng đóng khố, áo cộc tay nhiều màu sắc.

Riêng trong lễ hội cúng cơm mới, sáng sớm ngày cuối tháng tám, bà con tập trung tại nhà già làng cùng kết các cành cây trái và những nhánh hoa tươi do chính họ trồng trong vườn nhà thành một cây hoa trái lớn. Hai cô gái mặc áo váy mới, sặc sỡ cùng khiêng cây hoa trái đi trước, mọi người vừa mang lễ vật, vừa múa hát kéo thành đoàn đi phía sau, gọi là lễ rước bóng, đến cây cổ thụ lớn nhất trong làng bày ra cúng.

Tập tục này xuất phát từ quan niệm tổ tiên, ông bà sau khi chết đi không ở trong nhà mà ở lẫn khuất trên những tàng cây cổ thụ để trông nom vườn tược, hoa màu giúp con cháu, nên họ tổ chức cúng ông bà dưới bóng cây cổ thụ lớn nhất trong làng. Sau khi già làng làm các thủ tục cúng vái, mọi người cùng xúm quanh dưới bóng cây tiếp tục múa hát cho đến nửa đêm dưới ánh lửa bập bùng.

Ngày nay, Tết cổ truyền Sa-uôn-kô Kha-môn vẫn được bà con dân tộc Tà Mun tổ chức vào cuối tháng 8 và đầu tháng 9 âm lịch, nhưng các nghi thức đều theo tết Nguyên đán của người Kinh. Qua tìm hiểu thực tế thì bà con Tà Mun hầu như đã quên hết bài bản nhạc dân tộc và họ đã quen tổ chức Tết như người Kinh, dù tập tục lễ tết đã được tái hiện, nhưng không có người chủ trì tổ chức.

Các già làng Tà Mun hiện nay còn sống rất ít. Họ là kho tư liệu sống về văn hóa dân gian nhưng cũng quên dần vốn văn hóa cổ truyền của dân tộc. Thiết nghĩ những nét đặc thù của văn hóa dân tộc Tà Mun cũng góp phần làm phong phú thêm cho nền văn hóa dân gian Việt Nam nói chung và Tây Ninh nói riêng, nếu để mai một đi là điều đáng tiếc. Công tác tổ chức sưu tầm, nghiên cứu văn hóa cổ truyền của dân tộc Tà Mun cần được khẩn trương tiếp tục thực hiện.

Theo QueHuongOnline.vn

Bạn có thể quan tâm