Đi tìm giồng Ông Quan Cựu

Có thể nhận diện cái “quê chồng” trong bài lý mà người nông dân Trường Tây đã hát; cũng như có thể xác định được vị trí cái giồng (gò) Ông Quan Cựu. Đấy chính là , nay thuộc về ấp , huyện .

Nhìn cả trên thực địa lẫn trên bản đồ xem! Gò Duối nằm ở phía Đông và kế cận vàm rạch Tây Ninh mà trong bài ca xưa hát là vàm Rạch Gốc.

Dinh thờ Huỳnh Công Nghệ - Gò Duối trong ngày lễ.

Dinh thờ Huỳnh Công Nghệ – Gò Duối trong ngày lễ.

Xem sách “Dân ca Tây Ninh”, do Sở Văn hóa – Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phát hành năm 2005, có bài Lý quê chồng. Bài do cố chuyên viên, nhạc sĩ Võ Thành Thái sưu tầm, ký âm theo lời hát của ông Võ Văn Lịch năm ấy đã 62 tuổi, quê xã Trường Tây, huyện Hòa Thành.

Bài ca có những câu sau: “Qua vàm Rạch Gốc, tới cái hóc miếu Bà Thủy Long ơ… Qua luôn đất giồng… là giồng cái Ông Quan Cựu… rồi mới tới cái quê chồng, là chồng của tui…”.

Đi tìm những địa danh được nhắc ở trên, thật không đơn giản như tìm Bàu Gõ trong câu ca dao: “Lấy chồng về Bàu Gõ nước mắt nhỏ hai hàng”, dù bàu ấy giờ cũng đã thành ruộng lúa và cây gõ cũng không còn! Nhưng vẫn còn kia cái tên nôm na của đình xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu- đình Bàu Gõ. Quê chồng này là ở đâu? Mà phải qua những vàm Rạch Gốc, miếu Bà Thủy Long và nhất là cái đất giồng (gò) Ông Quan Cựu? Ông quan này gọi Cựu khi đủ tuổi để về hưu, hay là người thuộc “trào đàng Cựu” như những chuyện truyền tụng ở Tây Ninh kể về thời kỳ thuộc triều Nguyễn cai quản, trước khi Pháp chiếm năm 1862?

Đọc sách “Trảng Bàng phương chí” của Vương Công Đức, có mục 4: Chính sách di dân của triều đình (nhà Nguyễn)… tại các trang từ 91 đến 95. Thì được biết ngay từ thời chúa Nguyễn đến triều vua đầu tiên đã có khái niệm đồn điền trên những vùng đất mới. Sách có đoạn trích một mệnh lệnh của chúa Nguyễn (Phúc Ánh) năm 1790: “cho các đội túc trực và các vệ thuyền dinh trung quân ra gỡ ruộng ở Vàm Cỏ, đặt tên trại đồn điền, cấp cho trâu bò, nông cụ và thóc, ngô, đậu giống. Đến ngày thu hoạch đem hết về kho…” (theo sách Đại Nam thực lục chính biên). Đến năm 1810- theo tác giả Vương Công Đức phân tích: “tất cả các đồn điền được quân sự hóa cao độ”. Bằng chứng là tờ chiếu dụ của vua Gia Long có đoạn: “Vậy hạ lệnh số dân các huyện… cùng dân đồn điền biệt nạp, đều lấy một nửa làm hương binh, biên thành đội ngũ, có việc thì làm lính không việc thì làm ruộng…”. Cái gọi là chính sách “ngụ binh ư nông” có lẽ là đây! Tác giả còn cho biết: đến thời vua Minh Mạng, nhà nước còn tận dụng tù phạm vào khai khẩn đồn điền. Riêng ở Tây Ninh, cũng phải tới những năm thập niên 40 của thế kỷ XIX, chính sách này mới được thực hiện trên phạm vi rộng lớn. Bằng chứng, là sách “Đại Nam thực lục” có chép các sự kiện năm 1843 đời vua Thiệu Trị: “Quân (tù phạm) ở các tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên giải giao tỉnh Gia Định, chuyển phát đến phủ Tây Ninh đều sung vào quân đồn điền”.

Như vậy đồn điền đã là một khái niệm phổ biến thời nhà Nguyễn. Xem phim về Bình Tây đại nguyên soái (trên HTV), cũng sẽ biết lãnh binh Trương Định trước khi dấy binh khởi nghĩa từng là một Phó quản cơ, thủ lĩnh một đồn điền.

Ngay sau khi có chỉ dụ vào năm 1843, chắc chắn có nhiều đồn điền được thiết lập ở Tây Ninh. Và có lẽ ngay sau khi ổn định, các đồn điền đã trở thành thôn xã nên chỉ thấy sử sách ghi lại việc lập các làng xã mới. Nhân vật quan trọng trong việc này ở Tây Ninh chính là Cao Hữu Dực, quan Tuyên phủ sứ Tây Ninh. Lần theo sự hình thành và phát triển các thôn, làng, xã ở Tây Ninh trong sách “Từ điển, địa danh hành chính Nam Bộ” của tác giả Nguyễn Đình Tư (NXB Chính Trị Quốc Gia, 2008), vị Tuyên phủ sứ này luôn được nhắc tới. Như ở mục từ Hàm Ninh có đoạn: “Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), Tuyên phủ sứ Tây Ninh là Cao Hữu Dực chiêu tập dân xiêu tán, lập thêm 12 thôn là…”. Mục từ Giai Hóa cũng có ghi: “năm 1845, Tuyên phủ sứ Tây Ninh là Cao Hữu Dực chiêu tập dân lưu tán, lập thêm hai thôn Long Khánh, Tiên Thuận…” v.v… vv…

Như vậy, Tây Ninh thời kỳ này chắc chắn đã từng có nhiều đồn điền, sau đó nó đã được “dân sự hóa” thành các thôn, làng, xã. Đồn điền thì vẫn thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước quản lý. Vậy mới có các địa danh như giồng Ông Quan Cựu chăng? Chúng tôi mạnh dạn cho rằng, cái giồng Ông Quan Cựu chính là một đồn điền thuở trước. Bởi chữ cựu chính là chỉ “cựu trào” nghĩa là thời Tây Ninh còn trong tay nhà Nguyễn. Giả thiết này được củng cố vững chắc hơn khi xem lại cuốn sổ chép tay việc làng của ban hương chức làng Long Thành lập năm 1943. Trong đó có một bản chép tay nhan đề “Hỏi việc cổ tích xưa lưu niên” của cụ Bùi Hữu Địch, chép ngày 30 Juillet 1923 khi cụ đã 78 tuổi. Bản viết có đoạn: “Hồi tôi còn nhỏ mà cũng biết, tôi biết khai đời vua Minh Mạng có ông quan Khâm sứ ở ngoài Bắc kỳ có lập một cái đồng thủ cho binh lính ở tịnh vi nông động vi binh, ở mà làm ruộng đặng lấy lúa độ binh lính tục kêu tại gò ruộng Quan Cựu, thì ông quan Khâm sứ đó tạo lập một cái miếu Bà Thủy Long tại vàm rạch Tây Ninh…”.

Qua mấy dòng trích trên, có thể nhận diện cái “quê chồng” trong bài lý mà người nông dân Trường Tây đã hát; cũng như có thể xác định được vị trí cái giồng (gò) Ông Quan Cựu. Đấy chính là gò Duối, nay thuộc về ấp Bến Kéo xã Long Thành Nam, huyện Hòa Thành. Nhìn cả trên thực địa lẫn trên bản đồ xem! Gò Duối nằm ở phía Đông và kế cận vàm rạch Tây Ninh mà trong bài ca xưa hát là vàm Rạch Gốc. Phía Tây, bên kia rạch Tây Ninh là ấp Thanh Trung của xã Thanh Điền, còn phía Nam, bên kia sông Vàm Cỏ là ấp Long Chẩn, xã Long Vĩnh, huyện Châu Thành. Cũng nhờ hai tư liệu kể trên mà ta còn được biết rằng khi còn là đồn điền ở đó đã từng có miễu Bà Thủy Long.

Xin lưu ý rằng, năm 1923 cụ Địch đã 78 tuổi, nghĩa là cụ sinh năm 1845. Đấy chính là năm quan Tuyên phủ sứ Cao Hữu Dực thừa lệnh triều đình vào Tây Ninh lập nhiều thôn làng mới. Liệu cái ông “quan Khâm sứ ở ngoài Bắc kỳ” trong câu chuyện của cụ, có phải là ông Tuyên phủ sứ này không? Điều đó chưa dám chắc nhưng đã có thể khẳng định được chuyện: Gò Duối chính là một đồn điền xưa dưới thời vua Thiệu Trị (1841- 1847).

Theo Trần Vũ (Tây Ninh Online)

Bạn có thể quan tâm