Chiến dịch giải phóng Tây Ninh

Không chịu nổi những trận bão lửa của pháo binh ta, đến 10 giờ ngày 30.4.1975, Đại tá Bùi Đức Tài – Tỉnh trưởng Tây Ninh buộc phải liên lạc với ta qua máy bộ đàm và cử người ra gặp ta xin hàng.

Bộ đội vượt cầu Quan về giải phóng thị xã Tây Ninh.

Bộ đội vượt cầu Quan về giải phóng thị xã Tây Ninh.

Ngày 14.4.1975, Bộ Chính trị phê chuẩn đề nghị đặt tên chiến dịch tiến công giải phóng Sài Gòn – Gia Định là chiến dịch Hồ Chí Minh.

Trong bối cảnh nhiệm vụ chung là tranh thủ giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa năm 1975, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền giao nhiệm vụ cụ thể cho Tây Ninh là phải tự lực giải phóng địa phương mình; tổ chức đánh địch liên tục để kiềm chân Sư đoàn 25, liên đoàn Biệt kích 81 và cả lực lượng địch ở địa phương, không cho chúng rút chạy về Sài Gòn để góp phần tạo điều kiện cho lực lượng chủ lực của ta tấn công giải phóng Sài Gòn.

Chấp hành tinh thần Chỉ thị trên, Tỉnh ủy Tây Ninh đã đề ra nhiệm vụ: xã tự giải phóng xã, huyện tự giải phóng huyện, không để địch ở địa bàn này sang cố thủ ở địa bàn khác, vận động quần chúng đưa con em tham gia lực lượng vũ trang.

Tỉnh ủy cũng quán triệt tinh thần chỉ đạo của Trung ương Cục là không để những phần tử phản động lợi dụng chiến sự nóng bỏng, gây hoang mang trong dân chúng, cản trở bước tiến của quân giải phóng. Nếu địch rút quân vào nội ô Tòa thánh cố thủ chống trả lại, phải vừa bảo vệ được quần chúng tín đồ, vừa tiêu diệt sinh lực địch, vừa giữ nguyên được Đền Thánh, chợ Long Hoa và các công trình khác do nhân dân ta xây đắp nên.

Tỉnh ủy quyết định phân công các đồng chí Ủy viên Thường vụ, Tỉnh ủy viên cùng một số cán bộ chủ chốt khác về hỗ trợ chỉ đạo ở các huyện. Điều động hầu hết lực lượng thanh niên trong khối cơ quan vào bộ đội tỉnh, huyện.

Với khí thế vô cùng sôi nổi, chỉ trong vòng 20 ngày, kể từ ngày 4.4 – 24.4.1975, trên 3.000 thanh niên, trung niên tình nguyện lên đường tham gia LLVT. Ta tổ chức được 9 tiểu đoàn mới (trong đó có 2 đại đội là tín đồ Cao Đài). Các tiểu đoàn 20, 22, 24, 26 được tập trung bổ sung cho lực lượng chủ lực tỉnh. 5 tiểu đoàn còn lại của các địa phương gồm Tân Biên 1 tiểu đoàn, Châu Thành 2 tiểu đoàn, Trảng Bàng 2 tiểu đoàn ở cánh Tây và Đông. Ngoài ra, Tân Biên còn thành lập thêm 13 đại đội độc lập. Như vậy, ở thời điểm đó, toàn tỉnh có 12 tiểu đoàn. Du kích xã cũng phát triển khá mạnh, có nơi quân số lên đến đại đội, xã ít nhất cũng có 20 du kích. Nhân dân hết lòng ủng hộ bộ đội, tổ chức đón rước, bố trí bảo vệ địa bàn đứng chân của bộ đội, sẵn sàng tạo mọi điều kiện để bộ đội giành chiến thắng.

Tỉnh ủy triệu tập Hội nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy mở rộng để quán triệt quyết tâm của Đảng và bàn kế hoạch cụ thể việc giải phóng tỉnh, giải phóng từng huyện và đặc biệt là giải phóng Thị xã – trung tâm đầu não của địch. Cùng thời gian đó, LLVT cách mạng đã áp sát quốc lộ 22, các thị trấn, thị xã.

Ban chỉ huy chiến dịch giải phóng tỉnh do đồng chí Nguyễn Thanh Dương – Tỉnh đội trưởng làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Xuân Nhị và Nguyễn Thành Nghĩa – Tỉnh đội phó làm Chỉ huy phó, đồng chí Đặng Văn Lý– Chính trị viên Tỉnh đội làm Chính trị viên.

Chấp hành chỉ thị của Bộ Chỉ huy Miền, đêm 24.4.1975, Tây Ninh dùng 3 tiểu đoàn 14, 18, 20 tổ chức đánh chiếm cầu Bàu Nâu, cắt đứt QL22 không cho Trung đoàn 49 thuộc Sư đoàn 25 ngụy tháo chạy về Sài Gòn.

17 giờ ngày 26.4.1975, chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn. Ngay trong đêm 26.4, thực hiện phương án đánh chiếm khu vực trung tâm huyện Tòa Thánh (Hòa Thành ngày nay), Tiểu đoàn 20 đánh vào khu vực Long Hải; Tiểu đoàn 22 chia làm 3 mũi đánh chiếm các khu vực Lò Than, Trường Xuân, Trường Lưu; Tiểu đoàn 24 đánh chiếm khu vực Quy Thiện. Các biệt đội mật, du kích mật và quần chúng được lệnh chuẩn bị nổi dậy phối hợp nhịp nhàng với LLVT để giáng đòn quyết định.

Thế trận đã bày sẵn nhưng do hợp đồng chiến đấu chưa chặt nên đêm 26.4, BCH chiến dịch phải ra lệnh tạm hoãn kế hoạch tấn công, các đơn vị vẫn đứng chân ở vị trí tập kết. Do Tiểu đoàn 20 tiếp nhận lệnh không kịp thời nên vẫn tiến hành tấn công đánh chiếm khu vực Trường Lưu, tiêu diệt Tiểu đoàn 351 cùng 1 đại đội bảo an của địch đóng tại đây và tổ chức bao vây đồn Trường Đức. Cũng trong đêm đó, Tiểu đoàn 26 của Tòa Thánh về Thị xã tiến đánh vào khu vực Ninh Thạnh, bắt gọn đội phòng vệ dân sự ở đây và dừng chân ở suối Bà Phụng, chuẩn bị tấn công vào trung tâm Thị xã.

Đêm 27.4.1975, thực hiện phương án đánh chiếm khu vực trung tâm huyện Tòa Thánh, Tiểu đoàn 24 đánh chiếm Quy Thiện và sáng 28.4, các đơn vị đồng loạt nổ súng tấn công các mục tiêu. LLVT và quần chúng nhân dân bao vây, bức rút, bức hàng… giải phóng hàng loạt đồn bót, dồn địch lui dần về khu trung tâm đầu não…

Ở Gò Dầu, ngày 26.4, bộ đội huyện kết hợp với du kích và nhân dân tấn công các đồn trong huyện. Đến ngày 29.4, huyện Gò Dầu cơ bản giải phóng, quân địch chỉ còn 2 bót ở chi khu Gò Dầu và Bàu Đồn.

Ở Trảng Bàng, khi lực lượng chủ lực và xe tăng của ta đi qua để xuống Củ Chi và sang Hậu Nghĩa, trong tình hình địch hoang mang cao độ, Huyện ủy hạ quyết tâm dồn hết lực lượng đồng loạt tấn công đều khắp địa bàn huyện. Ngày 27.4, lực lượng địa phương tấn công chiếm lĩnh Gia Huỳnh. Ngày 28.4, Tiểu đoàn 1 cánh Đông của huyện dùng 2 đại đội đánh vào chi khu Trảng Bàng và 1 đại đội kết hợp với du kích và nhân dân Gia Lộc, Lộc Hưng bao vây bức hàng đồn Rừng Cầy, Láng Liêm, Chùa Đá, Hốc Nai, Gia Tân, Bàu Hai Năm, Cầu Ván, Đồng Ớt và Chùa Mọi. Ngày 29.4, du kích An Tịnh với sự hỗ trợ của nhân dân, bao vây các đồn Suối Sâu, Biện Sen, Bàu Tràm, Cây Dương, An Thới buộc địch phải đầu hàng và nộp súng. Cùng ngày, quân địch ở 2 đồn Gia Bình và Tha La trước sức ép của quân ta cũng buông súng đầu hàng. Đúng 16 giờ ngày 29.4, quân dân Trảng Bàng đã cắm lá cờ giải phóng lên nóc dinh quận trưởng ngụy quyền Trảng Bàng, cửa ngõ phía Bắc Sài Gòn trên quốc lộ 1 làm cho liên đoàn 33 biệt động quân của địch từ Gò Dầu chạy về Sài Gòn đến Trảng Bàng không có lối thoát buộc phải đốt xe, vất súng và đầu hàng. Trảng Bàng là huyện thứ hai của tỉnh được giải phóng.

Tại huyện Dương Minh Châu, lực lượng huyện cùng với nhân dân bức hàng đồn Bàu Năng, Bàu Cóp, Chà Là trên tỉnh lộ 26, bọn lính ở các đồn này đầu hàng và được gom về tập trung ở Trường học Ninh Hưng. Sau đó, bọn lính được thả về, chờ ngày ra trình diện. Đến 19 giờ ngày 29.4, huyện Dương Minh Châu cơ bản được giải phóng.

Ở huyện Châu Thành, ngày 29.4, 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương huyện tiến vào khu tam giác Thanh Điền, Cao Xá, Thái Bình, hình thành thế bao vây Thị xã. Trong khi đó, một bộ phận chủ lực của tỉnh áp sát phía Nam Thị xã và một bộ phận Công an vũ trang đã lọt được vào trung tâm Thị xã.

Tại Thị xã, vào lúc 9 giờ 30 phút ngày 30.4.1975, qua máy bộ đàm, BCH chiến dịch giải phóng Tây Ninh đã điện gọi Tỉnh trưởng Bùi Đức Tài buộc phải ra lệnh cho binh lính buông súng đầu hàng. Cùng lúc pháo binh của ta từ núi Bà Đen liên tục bắn vào Tiểu khu, Tòa hành chính ngụy. Trước tình thế nguy khốn, Trung đoàn 49, Sư đoàn 25, Biệt kích dù 81, Biệt động quân 33 và phần lớn thiết kỵ binh 3 tan rã và đầu hàng; các tiểu đoàn địa phương tinh thần rệu rã, không còn ý chí chiến đấu, cộng thêm kho vũ khí lớn nhất của Tiểu khu bị cháy nổ (ngày 29.4) do pháo ta bắn trúng. Không chịu nổi những trận bão lửa của pháo binh ta, đến 10 giờ ngày 30.4.1975, Đại tá Bùi Đức Tài– Tỉnh trưởng Tây Ninh buộc phải liên lạc với ta qua máy bộ đàm và cử người ra gặp ta xin hàng.

Bùi Đức Tài cử 2 sĩ quan là Tạ Kim Lời– Tham mưu phó tiểu khu và Tô Minh Trưởng – Trưởng ban I đến gặp đại diện Sở chỉ huy của ta tại Bến Kéo báo cáo việc chấp hành lệnh hạ vũ khí đầu hàng vô điều kiện. 10 giờ 30 phút, Bùi Đức Tài tuyên bố đầu hàng và ra lệnh cho các địa phương trong tỉnh hạ vũ khí đầu hàng quân cách mạng.

11 giờ 30 ngày 30.4.1975, toàn bộ BCH Tiểu khu Tây Ninh, 13 tiểu đoàn trưởng, 2 quận trưởng Phú Khương – Phước Ninh và các trưởng ty do Tỉnh trưởng Bùi Đức Tài dẫn đầu tập trung tại trụ sở xã Long Thành (Báo Quốc Từ, đối diện SVĐ Long Hoa) nhận quy chế đầu hàng do đồng chí Nguyễn Thanh Dương – Chỉ huy trưởng chiến dịch giải phóng Tây Ninh công bố. Thị xã Tây Ninh được giải phóng và tiếp quản hoàn toàn. Trung tâm Tòa Thánh được bảo vệ trọn vẹn.

Trong lúc LLVT tiến công giải phóng Thị xã, công nhân, nhân viên các nhà máy điện, nhà máy nước, bệnh viện, bưu điện… đã bảo vệ tại chỗ toàn bộ máy móc và các tài sản khác. Nhờ đó, khi Thị xã giải phóng, các cơ sở phục vụ sinh hoạt công cộng đều hoạt động bình thường. Đó cũng là một thắng lợi của chiến dịch, là kết quả giữa tiến công vũ trang và nổi dậy của quần chúng nhân dân.

Theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tây Ninh (1930 – 2005) (Tây Ninh Online)

Bạn có thể quan tâm