180 mùa thu đã qua

Một trăm tám mươi mùa thu đã qua, trên miền đất mà cha ông ta đã “nặng nhọc thuyền cày nước ngược” (thơ Vân An) theo hai dòng sông Sài Gòn và Vàm Cỏ Đông đi lên khai phá những vùng rừng. Giờ tôi đứng đây, ngay trên cầu Bến Đình đang sắp hoàn thành trên dòng sông xưa gọi là Quang Hóa ấy.

Đồng bào vùng căn cứ Trà Vong - Dương Minh Châu góp lương thực cho kháng chiến năm 1951

Đồng bào vùng căn cứ Trà Vong – Dương Minh Châu góp lương thực cho kháng chiến năm 1951.

Sách Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn, bản dịch và in năm 1967 của Nxb Khoa học Xã hội, quyển CLXXI chép các sự kiện của triều Minh Mạng trong mùa thu, tháng 7 âm lịch năm 1836. Sách ấy chép rằng:

“Vua ban chiếu dụ: – Nay đổi đặt đồn Xỉ Khê làm huyện Tân Ninh, đạo Quang Hóa là huyện Quang Hóa, gọi thành Quang Hóa (Cẩm Giang – NQV) là huyện thành. Lại đặt phủ Tây Ninh kiêm lý huyện Tân Ninh” (trang 222). Chuyện ấy xảy ra, cách nay gần đúng 180 năm. Hai tiếng Tây Ninh có từ ngày ấy. Gắn với nó là tên hai địa danh nổi tiếng trên miền đất phía Nam: Núi Bà Đen, sông Vàm Cỏ Đông mà khi lập phủ, còn được gọi là sông Quang Hóa.

Một trăm tám mươi mùa thu đã qua, trên miền đất mà cha ông ta đã “nặng nhọc thuyền cày nước ngược” (thơ Vân An) theo hai dòng sông Sài Gòn và Vàm Cỏ Đông đi lên khai phá những vùng rừng. Giờ tôi đứng đây, ngay trên cầu Bến Đình đang sắp hoàn thành trên dòng sông xưa gọi là Quang Hóa ấy. Là chiếc cầu nối Cẩm Giang tới huyện Bến Cầu. 180 năm xưa, bên này là thành huyện với bảo Quang Hóa, ngôi thành xưa nhất ở Tây Ninh; thì bên kia hôm nay đã lừng lững Khu cửa khẩu quốc tế Mộc Bài. Nói thêm, hơn 80 năm cai trị Tây Ninh, Pháp chỉ có làm được một cây cầu Gò Dầu, duy nhất vượt sông Vàm Cỏ Đông; thì nay ở thượng nguồn sông, đã có thêm ba cây cầu lừng lững là Bến Đình, Gò Chai và Bến Sỏi. Toàn cầu đúc bê tông cốt thép.

Mà chỉ trong vòng có 40 năm sau mùa xuân đại thắng 1975. Chung quanh tôi lúc này giờ đây đã ngăn ngắt đồng xanh, sum suê những rẫy mía, mì, vườn cây ăn trái. Đó đây, còn lừng lững những nhà máy mới trong các khu công nghiệp thênh thang. Trên vùng đất cổ tích nhất thuộc huyện Trảng Bàng, không chỉ có Khu CN Tây Ninh, mà còn CN Linh Trung từ TP. Hồ Chí Minh phát triển lên. Ở Gò Dầu, là Khu công nghiệp Trâm Vàng. Sang Châu Thành, ở xã địa đầu Thanh Điền, đã thấy ngay những khối nhà xưởng sơn xanh to lớn. Rồi Trà Phí, Thị xã và tiếp theo là huyện 25 tuổi Tân Châu với các nhà máy mía, mì lớn nhất trong khu vực Đông Nam bộ. Mới đây nhất là Khu công nghiệp đô thị Phước Đông lớn nhất toàn miền. Cả khu này giờ đã đẹp như một công viên giữa lòng Thành phố. Xin thưa, nó nằm dọc theo con đường Sứ ngày xưa (thiên lý phía Tây của triều Nguyễn) cùng với Khu công nghệ cao Chà Là. Ngay giữa lòng thành phố Tây Ninh bây giờ cũng rào rào tiếng máy may trong các xưởng may mênh mông, đêm ngày điện sáng. Không chỉ có người Kinh, nhiều cô gái Chăm, Khmer chỉ quen với chăn trâu bò và cấy lúa đã thành công nhân. Cuộc đại cách mạng công nghiệp này sẽ làm chuyển biến sâu sắc thế hệ trẻ hôm nay và nhiều thế hệ tiếp sau, hứa hẹn một khởi đầu của tăng trưởng mạnh mẽ và bền vững. Một ngày sẽ còn hơn cả hai mươi năm của 180 mùa thu trước.

Đình Hiệp Ninh

Đình Hiệp Ninh

Để có được kết quả vua ban chiếu dụ vào mùa thu 1836 ấy, là nhờ vào chuyến kinh lý các địa hạt thuộc thành Gia Định quản lý. Sách Đại Nam thực lục còn ghi:

– Mùa xuân năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), sai quan đi kinh lý 6 tỉnh Nam kỳ. Tháng 2, ngày 18 giờ lành theo đường thủy mà đi. Chỉ 5 tháng sau, việc kinh lý ở Nam kỳ đã xong. Thành tựu cơ bản nhất, cũng là mục đích chính của chuyến đi là đo đạc lại ruộng đất để có cơ sở mà phân định việc thuế khóa. Tháng 7.1836, triều đình bắt đầu đặt phủ Tây Ninh thuộc Gia Định, lãnh hai huyện Tân Ninh và Quang Hóa. Sách đã dẫn, trang 221 có đoạn: “Đến bấy giờ, bọn Kinh lược sứ Trương Minh Giảng và Trương Đăng Quế thân đến tận nơi xem xét, xem thấy từ cầu Tây Huê ngoài tỉnh thành thẳng đến một con đường lớn phủ Kha Lâm, khoảng giữa có đồn Xỉ Khê đất rộng, phẳng mà màu mỡ, người Kinh, người Phiên ở xen nhau, làm ăn cày cấy. Bên tả có sông nhỏ ăn thông với sông Quang Hóa (chỉ rạch Tây Ninh đổ ra sông Vàm Cỏ Đông – NQV); bên hữu có con đường bộ, ăn thông với sông Đục (chỉ con đường Sứ, sau là TL19-26 thông tới sông Sài Gòn), hình thế khá đẹp. Bọn Giảng bèn dâng sớ xin đặt phủ lỵ ở đó, rồi tùy địa thế liên lạc nên chia đặt hai huyện lệ thuộc vào…”.

180 mùa thu! Để tới được mùa thu này, người Tây Ninh từng trải qua những thử thách, gian nan chưa từng có. Bởi lịch sử của miền đất này còn là lịch sử chống xâm lăng. Chỉ xin nhớ những mùa hoặc những năm tròn tính từ thuở khai sinh. Thì sau khi lập phủ Tây Ninh 25 năm, kể từ năm 1861, người Tây Ninh đã phải bước vào kháng chiến chống Pháp lần thứ nhất. Những trận đầu tiên là của Lãnh binh Tòng, con trai của cụ Đại Hương cả Đặng Văn Trước – vị thành hoàng đình Gia Lộc. Rồi Khâm Tấn Tường ở Châu Thành, Lãnh binh Nguyễn Văn Châu, Lãnh binh Két ở Gò Dầu, Bến Cầu. Cao điểm của chiến tranh với những trận làm kinh hồn giặc Pháp lại là năm 1866 với vị chỉ huy trẻ tuổi Trương Quyền- con trai của Đại nguyên soái Bình Tây Trương Định. Năm ấy, hai tiếng Tây Ninh mới chỉ xuất hiện có 30 năm, còn cậu Hai Quyền mới tuổi 20.

180 mùa thu. Không biết đã có bao nhiêu mùa lừng lẫy. Thôi chỉ bằng trí nhớ kể ra lấy một vài. Ấy là mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Bên xóm nhỏ Giồng Nần cũng có một đốm lửa nhen lên. Một tổ Đảng chỉ có 5 người. Võ Văn Lợi từ Hóc Môn, Bà Điểm lên và những thanh niên địa phương: anh Chẩn, anh Phúc, anh Lương, anh Viết. Đốm lửa nhỏ ấy đã bùng lên làm sáng ngời một niềm tin của nhân dân với Đảng. Để rồi đến mùa thu thứ 109 sau mùa thu lập phủ Tây Ninh ấy, ngày 25.8.1945, dân các tổng Hàm Ninh, Giai Hóa rầm rập tiến về tỉnh lị ở xã Hiệp Ninh cướp chính quyền. Ngay sau đó là cuộc kháng chiến lần thứ hai chống Pháp. Cuối năm ấy, cũng là đầu xuân Bính Tuất 1946; có 27 chàng trai trẻ xứ Trảng Bàng tụ họp ở rừng Rong làm một cuộc hội thề. Từ hội thề này, Nguyễn Thới Bưng, Bùi Thanh Vân ra đi và trở thành các vị tướng lĩnh tài ba của cách mạng.

Rồi kháng chiến chống Pháp chín năm cũng bắt đầu từ một mùa thu. Ngay ngày 23.9.1945 Nam bộ kháng chiến thì ngày 8.11, quân dân Tây Ninh đã đánh trận đầu tiên ở phòng tuyến Suối Sâu. Bộ đội Tư Đẩu lập công đầu ở trận bàu Cá Trê, Thanh Điền… Nhưng chiến thắng vang dội nhất phải kể, chắc chắn là trận huyện căn cứ Dương Minh Châu đánh tan 20 tiểu đoàn lê dương Pháp cuối năm 1952, ngay sau cơn lũ lịch sử Nhâm Thìn tháng 10.1952. Chiến thắng ấy cũng bảo toàn lực lượng cho Bộ Chỉ huy cách mạng miền Nam là Xứ ủy, đứng đầu là đồng chí Lê Duẩn. Sao quân Mỹ lại không nghiên cứu lịch sử của trận này nhỉ? Vì chỉ 15 năm sau, quân Mỹ cũng thua đau trong trận càn Junction City nổi tiếng ngay trên mảnh đất này.

Xây dựng cầu Bến Đình

Xây dựng cầu Bến Đình

Sang thời đánh Mỹ! Ai mà quên cho được đêm 30 tết năm Canh Tý 1960, ngọn lửa thiêu cháy thành Tua Hai rực cháy. Quân dân Tây Ninh và bộ đội Miền võ trang đồng khởi đánh trận đầu tiên, xóa phiên hiệu một trung đoàn. Đấy là phát pháo lệnh cho miền Nam đứng lên chiến đấu sau biết bao tháng ngày ngậm oán nuốt hờn trước các chiến dịch khủng bố, truy lùng người kháng chiến. Cũng sẽ chẳng ai quên mùa xuân 1968 anh hùng, các mũi tiến công đều xốc tới Sài Gòn. Đất An Tịnh, Trảng Bàng trở thành trạm Quân y tiền phương lớn nhất với cả trên 800 thương binh được người dân đào hầm che giấu, bảo vệ và chăm sóc ngay trước mũi đồn bót giặc. Dĩ nhiên, chiến thắng vẻ vang nhất còn phải chờ đến mùa xuân năm 1975. Sớm ngày 7.1, cờ Giải phóng đã bay trên đỉnh núi làm sáng ngời cả núi Bà Đen. Ngày 15.3, huyện Bến Cầu đã sạch bóng thù. 10 giờ 30 sáng ngày 30.4.1975, toàn tỉnh Tây Ninh đã hoàn toàn được giải phóng.

Mùa thu Tây Ninh! Bao giờ cũng là trời ngăn ngắt xanh, mây trắng nhiều tầng bay về lớp lớp. Và nắng vàng tươi, và mưa sầm sập! Xin tạ ơn tự nhiên (trời) đã cho miền quê chúng ta luôn mưa thuận gió hòa.

180 năm trước, có lẽ chính Đại thần Trương Đăng Quế, sau khi xem xét tận nơi và dựa theo ý nguyện của lòng dân mà dâng sớ về triều xin đặt phủ Tây Ninh. Tên gọi này tự nó đã nói lên một nỗi khao khát ngàn đời của các dân tộc sống chung dưới bóng núi Bà. Rằng miền đất quê hương này phải là miền đất bình yên ở phía Tây Tổ quốc. Biết bao thế hệ người Tây Ninh vì khát vọng cao đẹp này đã chiến đấu, hy sinh. Nhiều thế hệ sau đã và đang xây đắp cho Tây Ninh ngày một thêm đàng hoàng và to đẹp. Mùa thu kỷ niệm này, chúng ta cùng chúc cho quê hương ta muôn đời tươi tốt. Dẫu biết rằng phía trước vẫn còn những chặng gập ghềnh phải đổ lắm mồ hôi.

Theo Nguyễn Quốc Việt (Tây Ninh Online)

Bạn có thể quan tâm