17 năm đầu của huyện Tân Ninh

Tân Ninh ôm trọn con đường thiên lý phía Tây (con đường sứ); lại có thêm đồn bảo ở Hưng Thuận làm “phên giậu” cho tỉnh lỵ. Tân Ninh không chỉ là một huyện, mà còn do phủ Tây Ninh “kiêm lý”. Tân Ninh mang trọng trách của một phủ tiền đồn.

“Hồ già thanh khởi thu vân yết
Cửu thú sầu tùy tái thảo tân”

Thành Săng đá xây trên nền cũ của thành phủ Tây Ninh.

Thành Săng đá xây trên nền cũ của thành phủ Tây Ninh.

Đấy là 2 câu trong bài thơ “Quang Hóa hồ già” của quan Hiệp Tổng trấn thành Gia Định Trịnh Hoài Đức viết đầu thế kỷ 19 (theo Trảng Bàng phương chí của Vương Công Đức). Dẫu chức to nhưng ông quan này vẫn trực tiếp đi xem xét mọi nơi. Nhờ thế để lại cho đời bộ sách “Gia Định thành thông chí” cùng một số thơ văn cảm tác ở mọi miền thuộc Gia Định xưa.

Đầu thế kỷ, khoảng sau năm 1800 thì còn chưa có phủ Tây Ninh. Xứ này mới có hai đạo Quang Hóa, Quang Phong do chúa Nguyễn Ánh lập ra năm 1779. Dù chưa ai chỉ rõ được phạm vi đạo Quang Phong, nhưng căn cứ các bài viết và nghiên cứu của các sử gia như Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Đình Tư thì chắc chắn nó nằm ở phía Bắc đạo Quang Hóa (có đạo sở đặt tại Cẩm Giang, huyện Gò Dầu ngày nay). Nghĩa là gồm các huyện Hòa Thành, Châu Thành, TP Tây Ninh trở lên miền rừng phía Bắc.

Trong thơ Trịnh Hoài Đức, Quang Hóa đã xa xôi hẻo hút như thế! Xa nên vắng. Đến nỗi chỉ một tiếng kèn Hồ đã khiến mây thu ngừng lại. Và người lính trấn thủ lưu đồn thêm buồn, nhớ. Vậy Quang Phong xa nữa còn hẻo hút tới đâu. Ta hãy cùng nhau khảo sát xứ này hồi đầu lập phủ Tây Ninh, khoảng mùa thu năm Bính Thân (1836). Cho đến lúc ấy, cái gọi là “cơ sở hạ tầng” của triều đình đầu tư mới chỉ có con đường thiên lý phía Tây (từ thành phố HCM đi lên đường 782-784, về Cách Mạng Tháng Tám qua thành phố Tây Ninh đến vùng biên giới huyện Châu Thành) được vua Gia Long cho tu sửa lại năm 1815 và thành Quang Hóa (năm 1824, thời vua Minh Mệnh).

Tháng 7 (âl) 1836, đoàn kinh lược sứ, do Trương Minh Giảng và Trương Đăng Quế dẫn đầu, hoàn thành nhiệm vụ về kinh, tâu lên kết quả và các tấu trình kiến nghị. Vua mới dụ rằng: “Nay đổi đặt đồn Xỉ Khê (BCH QS tỉnh ngày nay – PV) làm huyện Tân Ninh, đạo Quang Hóa làm huyện Quang Hóa, gọi thành Quang Hóa là huyện thành. Lại đặt phủ Tây Ninh kiêm lý huyện Tân Ninh. Nhân cái đồn bảo cũ (đồn Xỉ Khê – PV), chữa cao rộng thêm để làm phủ thành. Đổi sông Đục là sông Thanh Lưu (sông Sài Gòn nay – PV), đặt đồn bảo Thanh Lưu, cho lệ thuộc vào huyện Tân Ninh” (sách Đại Nam Thực lục, tập XVIII, NXB Khoa học Xã hội 1967).

Ngay sau đó, Tổng đốc Gia Định Nguyễn Văn Trọng phải sắp xếp các tổng, xã thôn lệ thuộc. Theo đó, lấy 25 xã dân sở tại cùng 6 xã ở 2 huyện Thuận An, Bình Dương tiếp cận huyện Tân Ninh để: “Chia làm 2 tổng cho lệ thuộc huyện Tân Ninh…” (trang 222, sđd). Hai tổng ấy là Hòa Ninh và Hàm Ninh.

Về tổng Hòa Ninh, tra mục từ ở trang 157, sách Từ điển địa danh hành chính Nam bộ của Nguyễn Đình Tư, NXB Chính trị quốc gia 2008 đã kể ra tên các thôn đầu tiên là: “Đông Tác, Hòa Hiệp, Hoà Hội, Hảo Đước, Long Thạnh, Long Phú, Mãnh Hòa, Khương Thạnh, Thái Bình, Trí Bình, Vĩnh Cơ, Xuân Sơn và Khương Ninh”.

Mục từ Hàm Ninh, trang 416 sđd viết: “từ triều Thiệu Trị năm thứ nhất (1841) có 11 xã thôn: Gia Lộc, Phước Hội, An Tịnh, Phước Chỉ, Ninh Điền, Long Vĩnh, Đôn Thuận, Hiệp Ninh, Lộc Ninh, Lộc Hưng, Phước Hiệp”.

Như vậy, cả 2 tổng mới có 25 xã, thôn thay vì 31 xã, thôn theo dự tính của Tổng đốc thành Gia Định. Tuy nhiên, đây là giai đoạn thực hiện chính sách khuyến khích di dân hợp lý đến miền đất mới, đặc biệt từ thời vua Minh Mệnh. Chỉ dụ của ông vua này vào năm 1830 có đoạn: “đồn bảo địa hạt có ruộng đất không (chưa ai cày cấy) thì giao cho tù phạm về tội quân và tội lưu khai khẩn, cấp nông cụ cho họ. Sau ba năm cứ số ruộng khai khẩn được cho phụ biên và sổ điền của dân sở tại, mà cho miễn thuế, lại năm nữa thì theo ruộng tốt xấu chước định lệ thuế mà thu…” (theo Vương Công Đức- Trảng Bàng phương chí, trang 91). Dù vậy nhưng cũng phải đến sau khi lập phủ, huyện thì công cuộc mở mang làng xã mới được đẩy mạnh.

Riêng ở tổng Hàm Ninh, chỉ đến: “năm Thiệu Trị thứ 5 (1848), Tuyên phủ sứ Tây Ninh là Cao Hữu Dực chiêu tập dân xiêu tán lập thêm 12 thôn là: An Hòa, An Thường, Định Bình, Định Thới, Gia Bình, Hòa Thuận, Hướng Hóa, Long Bình, Long Định, Thiên Thiện, Thuận Lý và Phước Mỹ…”. Vậy là Hàm Ninh có tới 23 xã, thôn vào năm 1845. Để đến triều Tự Đức (1847- 1883), tổng này phải chia làm 2 tổng Hàm Ninh Hạ và Hàm Ninh Thượng. Nhưng sự chia tách này, chỉ có thể diễn ra sau năm 1853 như chúng tôi đã chứng minh qua bản sắc phong của vua Tự Đức cho Thành hoàng đình An Tịnh. Bởi tờ sắc ban hành ngày 21.11 năm Tự Đức thứ 5 (tức ngày 8.1.1853 dương lịch) vẫn còn viết là “Chuẩn cho thôn An Tịnh, huyện Tân Ninh thờ phụng y như cũ…”.

Như vậy, ít ra là 17 năm đầu tiên lập phủ, huyện, thì huyện Tân Ninh đã ổn định với 37 xã, thôn (14 của Hoà Ninh và 23 của Hàm Ninh). Dù sau này, Tây Ninh cùng số phận 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay Pháp (1862); chính quyền thực dân chia tách, sáp nhập thành nhiều loại đơn vị hành chính mới; thì chỉ với những cái tên còn lại đến nay của 37 xã, thôn đã kể, cũng cho ta hình dung về một huyện Tân Ninh thời kỳ đầu lập huyện. Đấy là hầu như toàn bộ 7/9 huyện và TP của tỉnh Tây Ninh hiện nay (trừ Bến Cầu, Gò Dầu và xã Trường Hòa, huyện Hòa Thành).

Một câu hỏi đặt ra: Tại sao triều Nguyễn lập một huyện dài rộng như thế, thật khó cho quản lý? Hãy xem lại tấu trình của đoàn kinh lược sứ vào năm 1836, sau khi nhiệm vụ khảo sát đo đạc đất đai Nam bộ đã hoàn thành: “Từ cầu Tây Huê ngoài tỉnh thành thẳng đến một con đường lớn phủ Kha Lâm, khoảng giữa có đồn Xỉ Khê (TP Tây Ninh – PV) bên hữu có con đường bộ ăn thông đến sông Đục (thuộc thủ sở Quang Phong, giáp giới hạt Biên Hòa), hình thế khá đẹp.

Bọn Giảng bèn dâng sớ xin đặt phủ lỵ ở đó, rồi tùy địa thế liên lạc nên chia hai huyện lệ thuộc vào. Lại đặt một đồn bảo ở bến sông Đục (bến Đồn, Hưng Thuận – PV) để làm thế ỷ giốc với thành Quang Hóa, trong có thể làm phên giậu giữ vững cho Gia Định…” (Đại Nam thực lục chính biên). Từ đấy mà chiếu với hiện trạng, có thể thấy ngay rằng. Tân Ninh ôm trọn con đường thiên lý phía Tây (con đường sứ); lại có thêm đồn bảo ở Hưng Thuận làm “phên giậu” cho tỉnh lỵ. Tân Ninh không chỉ là một huyện, mà còn do phủ Tây Ninh “kiêm lý”. Tân Ninh mang trọng trách của một phủ tiền đồn.

Theo TRẦN VŨ (Tây Ninh Online)

Bạn có thể quan tâm