Tiếp cận sắc phong thần

Cho đến tận ngày rằm tháng 3 năm nay, mới có được tấm ảnh rõ nhất về bản sắc phong thần cho thành hoàng đình Hiệp Ninh – ngôi đình đã được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Nguyên do là dân mình có tập tục kiêng kỵ việc “khán sắc”, tức chỉ xem cho biết mà không có lý do liên quan đến chuyện tế lễ.

Sắc thần đình Hiệp Ninh.

Sắc thần đình Hiệp Ninh.

Nhân nói đến chuyện tập tục theo truyền thống dân gian Nam bộ cũng nên nhắc lại các ý kiến nhận xét của nhà nghiên cứu Nam bộ Trương Ngọc Tường và Huỳnh Ngọc Trảng, trong cuốn sách “Đình Nam bộ xưa và nay”, Nxb Đồng Nai 1999. Đó là “Hễ làng có đình có sắc thần là làng có truyền thống “cựu trào”. Thế nên ở vùng đất cũ thì thường xuyên xảy ra vụ tranh chấp sắc thần. Còn ở vùng đất mới thì phát sinh lòng tự ti mặc cảm là làng mình được thành lập do một quyết định của chính quyền thực dân (làng “Tây phong”). Thế là họ âm mưu bỏ một số tiền lớn mua tờ sắc cũ đem về thờ… tập tục kiêng kỵ việc khán sắc khiến ai cũng e dè việc kiểm tra nên việc mua được sắc thần cũng xóa được mặc cảm phần nào… Quan niệm sắc thần là vật thiêng liêng nên kiêng cữ không dám mở ra. Có nơi trước khi mở ra phải có nhang đèn, khi phơi sắc có nơi phải bày lỗ bộ, nghi trượng, có hương chức khăn áo đứng hầu…”.

Chỉ nhìn ngắm thôi đã khó thế, nên việc chụp được ảnh rõ và đẹp tờ sắc phong của đình Hiệp Ninh cũng là việc phấn khởi, nên… khoe! Mà đó hoàn toàn do sự tình cờ. Đúng vào bảy giờ rưỡi sáng rằm tháng 3, nhân đi qua trụ sở UBND phường 2, tôi gặp các vị trong ban quý tế đình đang làm lễ thỉnh sắc. Đèn nhang đầy đủ nhưng chưa mở hộp sắc kiểm tra. Hai người thận trọng mở hộp, lấy tờ sắc vuốt thẳng giơ lên trước “bá quan văn võ”. Đó là lúc duy nhất để có thể chụp hình tờ sắc toàn vẹn, đầy đủ cả sắc màu giấy kim tiên vàng vẽ rồng nhũ bạc với chữ nho viết tay rất đẹp cùng dấu triện son vẫn còn tươi. Mà đó mới chỉ là tờ sắc phong của vua Khải Định năm thứ hai, ký cấp ngày 18.3 âm, tức ngày 18.5.1917. Vậy thì với các tờ sắc cổ hơn, quý giá hơn chắc sẽ còn khó tới cỡ nào!

Nghĩ vậy nhưng không phải vậy! Người viết bài này đã có dịp tiếp cận với tờ sắc phong cổ nhất còn lại ở Tây Ninh – là sắc phong thành hoàng đình An Tịnh ở huyện Trảng Bàng. Đây cũng là một di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Đó là chuyện của năm 2015. Tôi đi cùng một cán bộ Phòng Văn hóa huyện xuống đình, được các cụ trong ban quý tế vui vẻ tiếp đón. Sau đó diễn ra nghi thức thỉnh sắc với đèn nhang đơn giản. Tờ sắc phong có tuổi 162 năm được mở ra, có thể mắt thấy tay sờ. Sực nhớ ra đất An Tịnh có truyền thống cách mạng kiên cường suốt những mùa kháng chiến. Phải chăng, nhờ thế mà các cụ giờ không câu nệ lắm với những lệ làng, phép nước của thời phong kiến xa xưa?

Bây giờ xin bàn đến nội dung các bản sắc phong. Sao lại phải bàn, khi ai cũng đã biết đó là một loại bằng, sắc (như quyết định ngày nay) của vua – người đứng đầu đất nước ban hành để phong thần hoặc chỉ định làng nào thờ ông thành hoàng ấy. Vậy mà có khác nhau đấy! Sắc phong còn lại ở Tây Ninh với số lượng ít ỏi có thể phân thành 2 loại. Loại thứ nhất là sắc phong thành hoàng bổn cảnh chung chung, gọi là các linh thần. Loại thứ hai là sắc phong dành cho nhân thần, tức là người có tên họ hẳn hoi. Trong 5 bản sắc phong mà chúng tôi tiếp cận được thì có một bản đã mất là bản sắc phong bà Linh Sơn thánh mẫu núi Bà Đen. Rất may là một số sách, tư liệu đã kịp chép lại nội dung, nên coi như vẫn giữ được cái “phần hồn” của sắc. Ở đây cũng không có tên người cụ thể nên thực chất là bản phong sắc cho linh thần. Cộng với hai bản cùng loại phong cho thành hoàng các đình Hiệp Ninh và Thái Bình vậy là đã có ba bản sắc phong thành hoàng là các linh thần.

Ở loại thứ hai – với thành hoàng là nhân thần thì chỉ có 2 bản sắc phong, một của đình Gia Lộc cho cụ Đại hương cả Đặng Văn Trước và một của đình Ninh Thạnh cho ông Đỗ Hữu Vị – một vị “quan ba tử trận”.

Trong 5 bản sắc kể trên, chỉ có một bản cổ nhất là bản thời vua Tự Đức dành cho đình An Tịnh (năm thứ 5, ngày 29.11 âm lịch tức ngày 8.1.1853). Hai bản do vua Khải Định ban sắc cho các đình Hiệp Ninh, Thái Bình vào năm 1917. Ba bản còn lại ban dưới thời vua Bảo Đại vào các năm 1933, 1935 và 1937.

Tuy cùng là các bản sắc thời các vua triều Nguyễn nhưng xem kỹ, ta cũng sẽ thấy được vị thế của vương triều lúc ấy. Thời vua Tự Đức, trước năm 1853 còn chưa mất phần đất nào vào tay Pháp thì giọng điệu cũng như nội dung là “ra lệnh thẳng” cho các bậc thần linh. Cụ thể như ở bản sắc của đình An Tịnh: “Sắc cho bổn cảnh thành hoàng chí thần… gia tặng Quảng hậu chánh trực hựu thiện đôn ngưng chi thần… Thần hãy phù hộ và bảo trợ cho lũ dân đen của ta. Kính đấy!”.

Thế nhưng đến năm 1917, khi một phần đất nước đã rơi vào tay giặc Pháp và bản thân triều đình cũng thành một cơ quan của chính quyền đô hộ, thì giọng điệu của vua xem chừng đã khác. Có vẻ nhún nhường hơn, không dám lệnh cho thần mà chỉ lệnh cho dân xã. Như bản sắc phong đình Thái Bình có nguyên văn: “Sắc cho xã Thái Bình, tổng Hòa Ninh, tỉnh Tây Ninh, thờ phụng bổn thổ thành hoàng tôn thần… phong Đôn ngưng dực bảo trung hưng tôn thần. Chuẩn cho thờ phụng, ngõ hầu phù hộ và bảo trợ cho lũ dân đen của ta. Kính đấy!”.

Cho đến các sắc phong triều Bảo Đại thì cũng giữ nguyên giọng điệu, văn phong như thời vua Khải Định.

Lễ rước sắc từ miếu ông Cả về đình Gia Lộc.

từ miếu ông Cả về đình Gia Lộc.

Nghiên cứu giai đoạn phong sắc thần thời Pháp đô hộ, tác giả “Đình Nam bộ xưa và nay” có một phát hiện: “Thấy yêu cầu của một số địa phương Nam Bộ có thể tạo thêm nguồn tiền tiêu pha nên triều đình Huế đã tổ chức bán sắc phong thần… Con dân đất Nam kỳ đâu còn là con dân của Hoàng đế An Nam mà Thiên tử dám dặn bách thần phải “bảo ngã lê dân” (bảo vệ dân đen của ta)!”. Câu chuyện “bán trời có văn tự” hẳn hoi này, tưởng chỉ xuất hiện vào thời dân ta mất nước, chân lý lung lay, sáng tối nhá nhem.

Vậy mà nay nó lại “tái xuất” ở Nam bộ. Từ khoảng giữa năm 2009 về sau, lại có chuyện Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế bán sắc phong – được gọi là “phục chế” cho các cơ sở thờ tự có yêu cầu. Nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường khi dịch một bản sắc như thế đã gọi thẳng đây là “bản sắc phong ngụy tạo”. Lý do để có thể kết luận ngay như vậy, là vì bản sắc ký thời Tự Đức nhưng lại có văn phong của thời Bảo Đại.

Vì thế, giá mỗi bản chỉ có 9 triệu đồng và bất cứ nơi đâu yêu cầu cũng được đáp ứng. Sau khi bán được cho các tỉnh miền Đông, trong đó có các đền miếu ở Tây Ninh thì các “bản sắc phong ngụy tạo” tương tự như thế tiếp tục lan xuống các tỉnh miền Tây (theo ông Trương Ngọc Tường). Thật là may vì Tây Ninh vẫn còn các bản sắc phong thứ thiệt – để khi cần có thể đối chiếu và so sánh.

Theo Trần Vũ (Tây Ninh Online)

Bạn có thể quan tâm